Kinh doanh

TPBank: Cho vay bất động sản tăng gần 65%, nợ xấu vượt 7.000 tỷ đồng

Thứ hai, 02/11/2026 10:52
QUẢNG CÁO Liên hệ Quảng cáo iSocial Vietnam
TÓM TẮT & GÓC NHÌN ISOCIAL
Tin tức được iSocial Vietnam tổng hợp & biên tập theo Giấy phép số 8095/GP-TTĐT. Cung cấp góc nhìn trọng tâm, tổng hợp tin tức đa chiều cho độc giả.

Tính đến cuối quý III/2026, dư nợ cho vay bất động sản của TPBank tăng mạnh 64,9% lên hơn 53.000 tỷ đồng, đi kèm với đó là tổng nợ xấu nội bảng phình to lên hơn 7.000 tỷ đồng, đẩy tỷ lệ nợ xấu tăng lên mức 2,1%.

QUẢNG CÁO IN-READ
Vị trí Quảng cáo giữa bài viết (300x250 / Responsive) / Google AdSense In-Read Banner

Lãi sau thuế của TPBank tăng gần 60%

Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank, mã: TPB) ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực trong quý III/2026 với lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 2.980,6 tỷ đồng, tăng 56,7% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt 2.351,2 tỷ đồng, tăng 54,6%.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng đạt 7.463,9 tỷ đồng, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2025. Lợi nhuận sau thuế đạt 5.924,5 tỷ đồng, tăng 22,5%.

Kết quả này chủ yếu đến từ sự cải thiện của nguồn thu cốt lõi, đặc biệt là thu nhập lãi thuần và hoạt động dịch vụ.

TPBank: Cho vay bất động sản tăng gần 65%, nợ xấu vượt 7.000 tỷ đồng - Ảnh 1
Kết quả kinh doanh của TPBank.

Cụ thể, trong quý III/2026, thu nhập lãi thuần của TPBank đạt 4.424 tỷ đồng, tăng 36,6% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng, chỉ tiêu này đạt 11.517,7 tỷ đồng, tăng 17,9%.

Động lực tăng trưởng đến từ việc mở rộng quy mô tài sản sinh lời, tăng trưởng tín dụng và tối ưu hóa chi phí vốn, qua đó cải thiện biên lãi ròng (NIM).

Hoạt động dịch vụ cũng đóng góp tích cực vào kết quả chung. Lãi thuần từ dịch vụ trong quý III đạt 1.174,8 tỷ đồng, tăng 13,5% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng, khoản thu này đạt 3.558,8 tỷ đồng, tăng 21,3%.

Ở chiều ngược lại, một số hoạt động kinh doanh ngoài lãi ghi nhận diễn biến kém tích cực. Lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối trong 9 tháng đạt 213 tỷ đồng, giảm so với mức 305,8 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh ghi nhận lỗ thuần 226 tỷ đồng, trong khi lãi thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư đạt 112,8 tỷ đồng, giảm so với mức 170,8 tỷ đồng cùng kỳ.

Về chi phí, tổng chi phí hoạt động trong 9 tháng đạt 6.108 tỷ đồng, tăng 14,1%. Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đạt 2.227,2 tỷ đồng, gần như đi ngang so với cùng kỳ, chỉ tăng 0,2%.

Nợ xấu tăng 78,5%, tỷ lệ bao phủ giảm còn 57%

Tại ngày 30/9/2026, tổng dư nợ xấu (nợ nhóm 3, 4 và 5) của ngân hàng đạt khoảng 7.029,2 tỷ đồng, tăng 78,5% so với mức 3.938 tỷ đồng tại thời điểm cuối năm 2025.

Trong đó, nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) tăng từ 1.157,6 tỷ đồng lên 2.609 tỷ đồng. Nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng từ 1.406,4 tỷ đồng lên 1.936,4 tỷ đồng. Đáng chú ý, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) tăng từ 1.374 tỷ đồng lên 2.483,9 tỷ đồng.

Theo đó, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay khách hàng từ 1,29% cuối năm 2025 lên 2,1% vào cuối tháng 9/2026.

Không chỉ nợ xấu, nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) cũng tăng mạnh. Cụ thể, dư nợ nhóm này tăng 74% so với đầu năm, từ 5.033,9 tỷ đồng lên 8.759,9 tỷ đồng.

Đáng chú ý, tốc độ tăng của nợ xấu đang lớn hơn đáng kể so với mức tăng của dự phòng rủi ro cho vay khách hàng. Tại ngày 30/9/2026, số dư dự phòng đạt 4.008,3 tỷ đồng, tăng từ mức 3.630,2 tỷ đồng hồi đầu năm.

Do đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) của TPBank giảm từ 92,18% xuống còn 57,02%. Trong khi đó, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong 9 tháng chỉ tăng 0,2% so với cùng kỳ.

Dư nợ bất động sản tăng gần 65%, chiếm 15,9% tổng cho vay

Tính đến ngày 30/9/2026, tổng tài sản của TPBank đạt 596.511,6 tỷ đồng, tăng 17,9% so với đầu năm. Dư nợ cho vay khách hàng đạt 334.160,2 tỷ đồng, tăng 9,3% so với mức 305.816,6 tỷ đồng tại ngày 31/12/2025.

Trong cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn, các khoản vay dài hạn trên 5 năm chiếm tỷ trọng lớn nhất với 143.131,2 tỷ đồng, tương đương 42,8% tổng dư nợ. Cho vay ngắn hạn dưới 1 năm đạt 110.075,4 tỷ đồng, chiếm 32,9%; cho vay trung hạn từ 1-5 năm đạt 78.163,4 tỷ đồng, chiếm 23,4%.

Dư nợ cho vay ký quỹ và ứng trước tiền bán tại TPS đạt 2.790,2 tỷ đồng, tương đương 0,8% tổng dư nợ.

Xét theo ngành nghề kinh tế, cho vay hộ gia đình, cá nhân phục vụ tiêu dùng và sản xuất tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục tín dụng của TPBank. Đến cuối tháng 9, dư nợ nhóm khách hàng này đạt 150.312,6 tỷ đồng, tương đương 45% tổng dư nợ, tăng nhẹ so với mức 147.649,3 tỷ đồng đầu năm.

TPBank: Cho vay bất động sản tăng gần 65%, nợ xấu vượt 7.000 tỷ đồng - Ảnh 2
Dư nợ cho vay theo ngành nghề của TPBank.

Tuy nhiên, tỷ trọng cho vay nhóm khách hàng này đã giảm từ 48,3% xuống còn 45%.

Đáng chú ý, dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản ghi nhận mức tăng trưởng mạnh nhất trong các nhóm ngành có quy mô lớn. Tại ngày 30/9/2026, dư nợ lĩnh vực này đạt 53.178,2 tỷ đồng, tăng 64,9% so với mức 32.255 tỷ đồng đầu năm.

Tỷ trọng cho vay bất động sản trong tổng dư nợ theo đó tăng từ 10,6% lên 15,9%, tương đương mức tăng 5,4 điểm phần trăm.

Một số lĩnh vực khác ghi nhận dư nợ giảm. Cho vay ngành xây dựng đạt 24.425 tỷ đồng, giảm so với mức 25.400,1 tỷ đồng đầu năm. Dư nợ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 25.270,4 tỷ đồng, gần tương đương mức 25.376,6 tỷ đồng cuối năm 2025. Cho vay vận tải, kho bãi giảm từ 16.234,2 tỷ đồng xuống 13.542,3 tỷ đồng.

Trong khi đó, dư nợ bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, xe máy đạt 31.464,4 tỷ đồng, tăng so với mức 29.491,7 tỷ đồng đầu năm. Cho vay hoạt động kinh doanh khác cũng tăng từ 15.283,6 tỷ đồng lên 22.750,6 tỷ đồng.

CASA giảm, tiền gửi có kỳ hạn chiếm gần 80%

Ở phía nguồn vốn, tổng tiền gửi khách hàng của TPBank tại ngày 30/9/2026 đạt 301.634 tỷ đồng, tăng 8,1% so với đầu năm.

Trong đó, tiền gửi có kỳ hạn đạt 241.050,6 tỷ đồng, chiếm 79,9% tổng tiền gửi khách hàng. Tiền gửi không kỳ hạn (CASA) đạt 49.323,5 tỷ đồng, tương đương 16,4%.

So với thời điểm đầu năm, quy mô CASA đã giảm từ 55.597,6 tỷ đồng xuống còn 49.323,5 tỷ đồng, tương ứng giảm 11,3%. Tỷ lệ CASA cũng thu hẹp từ 19,9% xuống 16,4%.

Ngược lại, tiền gửi ký quỹ tăng mạnh từ 7.315,5 tỷ đồng lên 11.231,8 tỷ đồng, tương đương mức tăng 53,5%, chiếm 3,7% tổng tiền gửi. Tiền gửi vốn chuyên dùng đạt 28,1 tỷ đồng.

Việc CASA suy giảm đồng nghĩa tỷ trọng nguồn vốn có chi phí thấp trong cơ cấu huy động của ngân hàng bị thu hẹp. Trong khi đó, chi phí trả lãi tiền gửi trong 9 tháng năm 2026 tăng từ 7.876,8 tỷ đồng lên 13.530,4 tỷ đồng, tạo thêm áp lực lên chi phí vốn.

Tại thời điểm cuối quý III/2026, vốn chủ sở hữu của TPBank đạt 52.133,1 tỷ đồng, tăng 13,4% so với đầu năm.

Dữ liệu của Tạp chí Kinh tế Môi trường cho thấy, tại 30/6/2026, TPBank có 19 cổ đông sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên, với tổng tỷ lệ nắm giữ 64,07% vốn điều lệ. Trong đó, nhóm 3 cổ đông tổ chức cùng người có liên quan nắm giữ tổng cộng 50,16% vốn điều lệ.

Cụ thể, Công ty CP Tập đoàn vàng bạc đá quý Doji và người có liên quan sở hữu 23,24% vốn điều lệ TPBank; SBI Ven Holdings PTE.LTD và người có liên quan sở hữu 20%; còn Công ty CP FPT và người có liên quan sở hữu 6,92%.

Báo cáo quản trị 6 tháng của TPBank có 6 cá nhân sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên. Trong đó, ông Đỗ Anh Tú, em trai Chủ tịch HĐQT Đỗ Minh Phú và bố đẻ Thành viên HĐQT Đỗ Quỳnh Anh, sở hữu 102.843.160 cổ phiếu, tương đương 3,71% vốn điều lệ. Ông Lê Quang Tiến, Phó Chủ tịch HĐQT, nắm giữ 100.063.616 cổ phiếu, tương đương 3,61% vốn điều lệ.

Ông Đỗ Minh Quân, con trai ông Đỗ Anh Tú và em ruột bà Đỗ Quỳnh Anh, sở hữu 92.651.498 cổ phiếu, tương đương 3,34% vốn điều lệ. Bà Đỗ Quỳnh Anh nắm giữ 85.148.823 cổ phiếu, tương đương 3,07% vốn điều lệ. Hai cá nhân khác trong gia đình ông Đỗ Minh Phú là ông Đỗ Minh Đức và bà Đỗ Vũ Phương Anh, cùng sở hữu 30.852.942 cổ phiếu, tương đương 1,11% vốn điều lệ mỗi người.

Ở nhóm tổ chức, Công ty CP Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI, tổ chức liên quan đến Chủ tịch HĐQT Đỗ Minh Phú, sở hữu 164.549.061 cổ phiếu, tương đương 5,93% vốn điều lệ TPBank. SBI Ven Holdings Pte. Ltd, tổ chức liên quan đến Phó Chủ tịch HĐQT Shuzo Shikata, nắm giữ 125.150.227 cổ phiếu, tương đương 4,51% vốn điều lệ.

Đáng chú ý, Công ty TNHH SP và Công ty TNHH JB, đều do bà Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Thành viên Ban Kiểm soát, làm Chủ tịch, lần lượt sở hữu 113.252.223 cổ phiếu và 113.198.905 cổ phiếu, tương đương 4,08% vốn điều lệ mỗi tổ chức. Hai tổ chức khác cũng do bà Nguyễn Thị Thu Nguyệt làm Chủ tịch là Công ty TNHH VG, sở hữu 106.442.665 cổ phiếu, tương đương 3,84% vốn điều lệ, và Công ty TNHH FD, sở hữu 96.765.354 cổ phiếu, tương đương 3,49% vốn điều lệ.

An Vũ

📌 Tuyên bố bản quyền & Nguồn tin tổng hợp:
Bài viết được tổng hợp từ nguồn Kinh tế Môi trường. iSocial.vn vận hành dưới hình thức Trang thông tin điện tử tổng hợp theo Giấy phép số 8095/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử cấp ngày 28/07/2026. Mọi nội dung trích dẫn đều tuân thủ đúng quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.
QUẢNG CÁO Liên hệ Quảng cáo iSocial Vietnam
Kinh tế Môi trường
Theo Kinh tế Môi trường
11/02/2026 10:52 (GMT +7)

Tin liên quan