Thi chung đề – ‘liều thuốc’ trị lạm phát điểm, học bạ ảo
Theo thông tư sửa đổi về đánh giá học sinh phổ thông (lớp 1-12), Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng đề kiểm tra cuối kỳ I, II (hoặc cuối năm) với lớp 5, 9 và 12. Sở cũng được chọn số lượng môn; còn trường tổ chức coi, chấm bài.
Cô Nguyễn Thị Vân Hồng, Hiệu trưởng trường Tiểu học và THCS Chương Dương, Hà Nội, kỳ vọng thay đổi giúp hạn chế “lạm phát điểm số”. Điểm 9, 10 xuất hiện quá nhiều nhưng không tương xứng với năng lực thực tế sẽ dần mất giá trị phân loại và định hướng học tập.
Thầy Võ Nu, Phó hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Hữu Cầu, TP HCM, cho rằng đề chung đặt học sinh vào cùng một thang đo, tạo công bằng và khắc phục tình trạng chênh lệch về độ khó giữa các trường học.
Ở góc độ quản lý, kết quả này còn là một thước đo để đánh giá chất lượng dạy học, theo thầy Lê Quang Vui, Hiệu trưởng trường Tiểu học – THCS Ngô Chí Quốc, TP HCM.
“Nếu điểm ở lớp cao nhưng kết quả kiểm tra chung thấp, trường có thể xem xét lại phương pháp giảng dạy và cách đánh giá của giáo viên”, thầy Vui nói.
Chủ trương để học sinh cuối cấp thi chung đề trong bối cảnh Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các trường học “dạy thật, học thật, thi thật, kết quả thật”. Cuối tháng 7, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh cần chấm dứt triệt để tình trạng nâng điểm, làm đẹp học bạ, chạy theo thành tích và kết quả thi đua.
Tại TP Huế, học sinh lớp 12 đã làm bài kiểm tra định kỳ, cuối kỳ bằng đề chung của Sở nhiều năm qua. Giám đốc Nguyễn Tân nói cách này giúp Sở giám sát chuyên môn mà không cần trực tiếp xuống từng trường.
“Quan trọng hơn, khi chung đề, chung đợt, học bạ sẽ khách quan hơn. Khi đủ điều kiện, có thể sử dụng để xét tuyển, giảm sự tốn kém của các kỳ thi”, ông nói.
Tại Sơn La, đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo cho biết cách làm tương tự. Riêng năm học trước, Sở còn khảo sát chất lượng đầu năm theo đề chung, làm trên máy tính ở môn Toán, tiếng Anh; riêng môn Ngữ văn (tiếng Việt đối với cấp tiểu học) vẫn theo hình thức tự luận.
“Sau nhiều năm áp dụng, việc thi chung cho hiệu quả rõ rệt, kết quả không chênh lệch nhiều so với điểm học bạ”, người này nói. “Nó cũng giúp tỉnh, các trường và giáo viên điều chỉnh kế hoạch và phương pháp dạy, để nâng cao chất lượng”.
Học sinh trường Tiểu học, THCS và THPT Lê Thị Riêng, phường Thới An, TP HCM, tháng 9/2026. Ảnh: Quỳnh Trần
Dù vậy, một số hiệu trưởng, các nhà quản lý cho rằng cần phân biệt kiểm tra định kỳ với các kỳ thi tuyển sinh.
Theo một nguyên Trưởng phòng giáo dục tại TP HCM, với kỳ thi tuyển sinh lớp 10 hay thi tốt nghiệp THPT, đề chung là cần thiết để bảo đảm công bằng. Trong khi đó, kiểm tra định kỳ là một phần của quá trình dạy học, cần tính đến đặc điểm và trình độ của từng lớp, nhóm học sinh.
“Nếu chuyển việc ra đề kiểm tra cuối kỳ sang Sở, cần làm rõ vai trò của giáo viên trong quy trình đánh giá”, ông nói.
Cô Vân Hồng cũng cho rằng đây không phải giải pháp duy nhất để chống lạm phát điểm số hay có mục tiêu kéo điểm của học sinh thấp xuống. Điều cần khắc phục là khoảng cách giữa điểm số và năng lực thực chất; đồng thời, kiểm tra chung không thể thay thế toàn bộ quá trình đánh giá thường xuyên của giáo viên.
“Nếu quá đề cao một bài kiểm tra chung, vai trò của giáo viên vô tình bị giảm, đồng thời dẫn tới tình trạng dạy học chạy theo đề kiểm tra, tạo thêm áp lực cho học sinh”, cô nói.
Việc tổ chức kiểm tra chung trên diện rộng cũng đặt ra nhiều thách thức. Theo thầy Vui, đề của Sở không đồng nghĩa sẽ khó hơn đề của trường, mà cần phù hợp với học sinh ở nhiều khu vực, từ nội thành đến ngoại thành và vùng sâu, vùng xa, mà vẫn bảo đảm yêu cầu cần đạt của chương trình.
Chung quan điểm, vị nguyên Trưởng phòng giáo dục nhận định việc này không đơn giản, nhất là sau khi các tỉnh, thành sáp nhập, điều kiện dạy học giữa các khu vực còn khác biệt. Ngoài ra, nếu hàng trăm trường cùng sử dụng một đề, ngành giáo dục phải bảo đảm khâu bảo mật, vận chuyển hay kiểm tra đồng loạt.
“Nếu không tính toán kỹ, kiểm tra chung có thể tạo thêm áp lực cho Sở và các trường. Vì vậy, cần có hướng dẫn cụ thể về môn học, quy trình tổ chức”, ông nói.
Từ thực tiễn, đại diện ngành giáo dục Sơn La chia sẻ đề được chuyển bản mềm theo hệ thống riêng, kèm mật khẩu tới từng hiệu trưởng. Các trường thành lập tổ in sao để bảo đảm tính bảo mật và tổ chức thi, chấm theo lịch chung.
Ngoài ra, đề sẽ có tỷ lệ trắc nghiệm, tự luận phù hợp với từng khối, lớp. Chẳng hạn, bậc THPT có cấu trúc gần tương tự đề thi tốt nghiệp, với 100% trắc nghiệm, còn bậc THCS sẽ có khoảng 30% câu hỏi tự luận.
Để chính sách mới phát huy hiệu quả, cô Hồng và thầy Vui cho rằng chưa nên triển khai đồng loạt với tất cả môn học.
Ở THCS, cô Hồng đề xuất ưu tiên thí điểm với ba môn Toán, Ngữ văn và Tiếng Anh, đánh giá hiệu quả trước khi mở rộng. Với bậc tiểu học, cô thấy cần thận trọng hơn, bởi mục tiêu đánh giá không chỉ là xác định mức độ đạt được mà còn khuyến khích sự tiến bộ, hình thành hứng thú học tập và phát triển năng lực của học sinh.
Cấu trúc đề và ngân hàng câu hỏi cũng cần bám sát chương trình, được phản biện, thử nghiệm, chuẩn hóa và cập nhật thường xuyên. Sở nên trả kết quả và dữ liệu chi tiết cho từng trường, chỉ rõ học sinh còn yếu ở nhóm kiến thức, kỹ năng nào và mức độ chênh lệch ra sao. Nhà chức trách không nên công khai bảng xếp hạng theo điểm trung bình, tránh tạo áp lực thành tích.
Trong khi đó, thầy Nu kiến nghị cách làm tương tự kỳ thi tốt nghiệp THPT, với đề chính thức và dự phòng, chuyển đến các trường qua kênh an toàn. Về lâu dài, địa phương nên tiến tới kiểm tra trên máy tính.
“Tôi hy vọng sau khi thực hiện đề chung, điểm số sẽ đáng tin cậy hơn, giáo viên dạy học thực chất hơn và học sinh được hỗ trợ đúng với năng lực của mình”, cô Hồng nói.
Nguyễn Quyên – Thanh Hằng