Phân loại rác sinh hoạt thực chất: Vì sao luật đã có mà bài toán vẫn chưa có lời giải?
Diễn biến này phần nào cho thấy khoảng cách giữa ban hành chính sách và tổ chức thực thi, giám sát, tạo động lực cho các bên liên quan. Bài viết khái quát hành trình thể chế của phân loại rác tại nguồn, đối chiếu với bằng chứng từ khảo sát 789 người dân Hà Nội vào tháng 7/2026 và soi chiếu qua Tháp Văn hóa, từ đó đề xuất một hệ thống giải pháp kết nối thể chế, động lực kinh tế, hạ tầng, trách nhiệm giải trình và văn hóa môi trường.

Vòng lặp “rộ lên rồi lắng xuống”
Phân loại rác tại nguồn có thể được xem là một bài toán hành động tập thể [1]: lợi ích môi trường phần lớn mang tính công cộng và dài hạn, trong khi chi phí tuân thủ như thời gian, công sức và thay đổi thói quen lại mang tính cá nhân và tức thời. Khi cơ chế ràng buộc hoặc khuyến khích chưa đủ rõ, một bộ phận người dân có thể trì hoãn hoặc trông chờ vào nỗ lực của cộng đồng. Truyền thông có thể tạo cú hích ban đầu, nhưng hiệu quả khó duy trì nếu không đi cùng hạ tầng tiếp nhận phù hợp và cơ chế giám sát – khuyến khích minh bạch. Vì vậy, mức độ quan tâm có thể tăng lên sau mỗi đợt chính sách mới rồi giảm dần nếu các điều kiện thực thi chưa theo kịp.
Từ luật đến thực tiễn: Khoảng trống thực thi
Yêu cầu phân loại chất thải rắn thông thường tại nguồn đã được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường 2014 (số 55/2014/QH13) [2]. Luật Bảo vệ môi trường 2020 (số 72/2020/QH14, hiệu lực từ 1/1/2022) [3] tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu này, quy định chất thải rắn sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân thành ba nhóm: chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế; chất thải thực phẩm; và chất thải rắn sinh hoạt khác.
Nghị định 08/2022/NĐ-CP [4] hướng dẫn thi hành Luật, còn Nghị định 45/2022/NĐ-CP [5] quy định mức phạt từ 500.000 đến 1.000.000 đồng đối với hộ gia đình, cá nhân không phân loại hoặc không sử dụng bao bì chứa chất thải rắn sinh hoạt theo quy định.
Theo lộ trình của Luật, việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt từ hộ gia đình, cá nhân và áp dụng giá dịch vụ theo khối lượng hoặc thể tích chất thải đã phân loại phải được triển khai chậm nhất ngày 31/12/2024. Hà Nội đã thí điểm phân loại tại nguồn ở 23 phường thuộc 5 quận từ tháng 6/2024 [6]. Đến Quyết định số 87/2025/QĐ-UBND, có hiệu lực từ 8/1/2026 [7], thành phố quy định cụ thể hơn về tổ chức thực hiện, trong đó đơn vị thu gom có quyền từ chối tiếp nhận rác không được phân loại hoặc không sử dụng đúng bao bì theo quy định. Những mốc này cho thấy khung pháp lý đã ngày càng cụ thể; thách thức còn lại chủ yếu nằm ở việc tổ chức thực hiện đồng bộ và phù hợp với điều kiện hạ tầng tại từng địa bàn.
Bằng chứng từ khảo sát 789 người dân Hà Nội
Khảo sát của đề tài QG.24.92 do tác giả làm chủ nhiệm, thực hiện với 789 người dân Hà Nội về hành vi và nhận thức đối với rác thải sinh hoạt, cho thấy ba kết quả đáng chú ý.
Thứ nhất, 22,6% người được hỏi cho biết hộ gia đình có phân loại rác tại nguồn trước khi đưa đến điểm tập kết, trong khi 77,4% chưa thực hiện.
Thứ hai, 66,8% cho biết khu vực sinh sống không có trạm trung chuyển rác. Con số này không trực tiếp phản ánh mức thiếu hụt hạ tầng của toàn thành phố, nhưng là tín hiệu đáng lưu ý về trải nghiệm của người dân đối với năng lực thu gom – trung chuyển.
Thứ ba, 71,2% cho rằng “ý thức người dân còn hạn chế”, trong khi 29,3% chỉ ra “hệ thống cơ sở vật chất còn yếu kém”. Trong khi đó, một nghiên cứu trước đây của nhóm tác giả cho thấy hơn 83% hộ được khảo sát sẵn sàng chi trả tự nguyện cho hoạt động xử lý rác thải sinh hoạt [8]. Các kết quả này gợi ý rằng hành vi phân loại không nên chỉ được lý giải bằng yếu tố ý thức; chất lượng thể chế, mức độ thuận tiện và năng lực hạ tầng cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến khả năng chuyển thiện chí thành hành vi bền vững.
Nhìn từ Tháp Văn hóa
Soi chiếu theo Tháp Văn hóa (Culture Tower) [9], có thể thấy khoảng chuyển từ nhận thức đến hành vi và giá trị chưa phải lúc nào cũng liền mạch trong chuỗi K–A–U–C: biết (K) chưa chắc dẫn đến làm (A); nếu hành động phân loại chưa được hệ thống thu gom, trung chuyển và xử lý tiếp nhận tương thích, giá trị mà người dân cảm nhận hoặc thụ hưởng từ hành động đó (U) có thể giảm, từ đó hạn chế khả năng hình thành đóng góp và chuẩn mực cộng đồng (C).

Hình 1 cho thấy lời giải không nằm ở một biện pháp đơn lẻ mà ở việc giúp các mắt xích trong hệ thống vận hành liền mạch hơn. Theo đó, năm trụ cột dưới đây có thể được xem như một hệ thống giải pháp bổ trợ lẫn nhau.
Năm trụ cột giải pháp
Một là, xây dựng thể chế thích ứng với điều kiện địa phương, tránh cách tiếp cận đồng nhất cho mọi địa bàn. Chính sách nên dựa trên dữ liệu, thí điểm thực địa và phản hồi của người dân, doanh nghiệp, đơn vị thu gom; đồng thời quy định rõ trách nhiệm, nguồn lực và tiêu chí đánh giá ngay từ khi ban hành.
Hai là, thiết kế động lực kinh tế phù hợp để khuyến khích tuân thủ lâu dài, đồng thời chỉ áp dụng công cụ giá khi hạ tầng và cơ chế thực thi đã sẵn sàng. Hàn Quốc áp dụng hệ thống thu phí theo lượng rác (volume-based waste fee) trên phạm vi toàn quốc từ năm 1995; các tổng kết chính sách cho thấy sau khoảng một thập kỷ, lượng rác phát sinh bình quân đầu người giảm khoảng 23%, đồng thời hoạt động tái chế tăng mạnh [10]. Đài Bắc triển khai thu phí theo túi rác từ tháng 7/2000; số liệu chính thức cho thấy tỷ lệ tái chế đạt 56,15% vào năm 2012 [11]. Tại Hồng Kông, kế hoạch thu phí dự kiến bắt đầu từ 1/8/2024 đã được lùi lại sau giai đoạn thử nghiệm, cùng với việc tiếp tục tăng cường hỗ trợ tái chế, giáo dục cộng đồng và rà soát phương thức triển khai [12]. Các kinh nghiệm này gợi ý rằng công cụ giá thường phát huy tác dụng tốt hơn khi đi cùng hạ tầng thuận tiện, truyền thông đầy đủ và năng lực thực thi phù hợp.
Ba là, đồng bộ hóa hạ tầng – công nghệ trên toàn chuỗi: dụng cụ chứa rác tại hộ gia đình, phương tiện thu gom theo dòng rác, điểm tập kết, trạm trung chuyển, cơ sở tái chế và xử lý cuối cùng; đồng thời ứng dụng công nghệ số để theo dõi dòng rác và chất lượng dịch vụ. Việc 66,8% người được hỏi cho biết khu vực sinh sống không có trạm trung chuyển gợi ý rằng hạ tầng thu gom – trung chuyển là một nội dung cần được ưu tiên xem xét trong đầu tư và tổ chức dịch vụ.
Bốn là, tăng trách nhiệm giải trình ở cấp thực thi. Mỗi địa bàn cần xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm về tỷ lệ phân loại, chất lượng thu gom và tình trạng trộn lẫn rác sau phân loại; kết quả cần được đo lường và công khai định kỳ. Các chỉ số “tổ dân phố xanh”, “khu dân cư xanh” hoặc “cơ quan xanh” có thể hỗ trợ theo dõi và khuyến khích cải thiện nếu tiêu chí minh bạch và đo lường được.
Năm là, từng bước xây dựng văn hóa môi trường thông qua giáo dục, truyền thông và thực hành hằng ngày tại gia đình, trường học, công sở và cộng đồng. Mục tiêu không chỉ là “biết phải phân loại”, mà là hình thành chuẩn mực xã hội coi rác như một dòng tài nguyên có giá trị trong nền kinh tế tuần hoàn. Khi hành vi tích cực trở thành chuẩn mực, nhu cầu giám sát trực tiếp có thể giảm và sự tuân thủ có cơ sở bền vững hơn.
Kết luận
Phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt là một dịch vụ thiết yếu gắn với lợi ích công cộng và ngoại tác môi trường, đòi hỏi sự phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Khi chính sách, hạ tầng và cơ chế lợi ích – chi phí chưa đồng bộ, giá trị tài nguyên trong rác khó được khai thác đầy đủ và chi phí quản lý cuối cùng vẫn quay trở lại xã hội.
Nhìn từ Tháp Văn hóa, điều cốt lõi là tạo điều kiện để cái biết trở thành cái làm, cái làm tạo ra giá trị và giá trị được chuyển hóa thành đóng góp bền vững. Điều đó cần một hệ thống với thể chế rõ ràng, động lực phù hợp, hạ tầng thuận tiện, trách nhiệm cụ thể và văn hóa được nuôi dưỡng lâu dài. Khi hành vi phân loại của người dân được một hệ thống phù hợp tiếp nhận và hỗ trợ, bài toán phân loại rác sẽ có thêm cơ sở để từng bước vượt qua/giải quyết bài toán vòng lặp “rộ lên rồi lắng xuống”.
Tài liệu tham khảo
[1] E. Ostrom, Governing the Commons: The Evolution of Institutions for Collective Action, Cambridge University Press, Cambridge, 1990. https://doi.org/DOI: 10.1017/CBO9780511807763.
[2] Quốc Hội, Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13, ngày 23/6/2014, (2014).
[3] Quốc Hội, Luật số 72/2020/QH14 – Luật Bảo vệ môi trường, 2020.
[4] Chính Phủ, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, (2022).
[5] Chính Phủ, Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 7/7/2022 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, (2022).
[6] Cục Môi trường, Thành phố Hà Nội thí điểm phân loại rác tại nguồn, (2024). https://vea.mae.gov.vn/tin-tuc-su-kien/9089/thanh-pho-ha-noi-thi-diem-phan-loai-rac-tai-nguon.
[7] UBND Thành phố Hà Nội, Quyết định số 87/2025/QĐ-UBND ngày 29/12/2025 – Quy định quản lý chất thải rắn sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội., 2025.
[8] V.P. Phạm, Đ.H. Lưu, Chi trả tự nguyện cho hoạt động xử lý rác thải sinh hoạt của người dân ở miền Bắc Việt Nam, (2022). https://doi.org/10.31219/osf.io/vnu86.
[9] V.Q. Khuc, Culture Tower, SSRN (2023). https://doi.org/10.2139/ssrn.4559667.
[10] Ministry of Strategy and Finance & KAIST College of Business, 2014 Modularization of Korea’s Development Experience: Korea’s Volume-based Waste Fee System: A Case Study for Presentation in the Classroom. KDI School of Public Policy and Management, (2014). https://www.kdi.re.kr/research/subjects_view.jsp?pub_no=14876.
[11] Taipei City Government, Taipei Yearbook 2013: Per-Bag Trash Collection Fee and Recycling Performance, (2014). https://www-ws.gov.taipei/001/Upload/public/MMO/TCG/2013e_09.pdf.
[12] The Government of the Hong Kong Special Administrative Region, LCQ18: Municipal solid waste charging, 5 June 2024., (2024). https://www.info.gov.hk/gia/general/202406/05/P2024060500236.htm.
TS. Khúc Văn Quý