Giải bài toán quản lý khoáng sản, vật liệu xây dựng ở Quảng Trị (Kỳ 1): Nhiều điểm mỏ khiến người dân bức xúc!
Áp lực nguồn cung vật liệu xây dựng (VLXD)
Nguồn cung VLXD thông thường như đất đắp, cát, đá xây dựng… là điều kiện tiên quyết để triển khai các dự án giao thông trọng điểm, các khu kinh tế ven biển, nâng cấp hệ thống đô thị cũng như công trình dân sinh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Việc khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này không chỉ góp phần tăng thu ngân sách địa phương, giải quyết việc làm cho lao động bản địa mà còn thúc đẩy tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công, tạo lực đẩy thu hút nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách.

Nhằm đưa hoạt động khai thác vào khuôn khổ pháp lý vững chắc, công tác quản lý nhà nước về khoáng sản tại Quảng Trị đã từng bước được tăng cường. Quy hoạch khoáng sản đã được tích hợp đồng bộ vào Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tính từ năm 2020 đến quý I/2026, UBND tỉnh Quảng Trị đã cấp 51 giấy phép thăm dò khoáng sản làm VLXD thông thường, 81 giấy phép khai thác khoáng sản; đồng thời tổ chức đấu giá thành công 44 khu vực khai thác, tạo sự minh bạch trong tiếp cận tài nguyên.

Giai đoạn hiện nay, theo Sở Xây dựng Quảng Trị, nhu cầu vật liệu san lấp phục vụ các dự án lớn như đường ven biển, Quốc lộ 15D và các khu tái định cư dự án đường sắt tốc độ cao đang tăng rất mạnh. Áp lực nguồn cung khiến giá vật liệu biến động lớn: cát hạt mịn tăng từ 42% đến 147%, đá xây dựng tăng 12% – 47%, đất đắp và xi măng tăng 5% – 15,85%. Sự khan hiếm nguồn cung cùng với khoảng cách vận chuyển xa đã làm tăng chi phí thi công, tạo sức ép lớn lên tiến độ các dự án trọng điểm.

Trước thực trạng đó, tỉnh đã chỉ đạo rà soát trữ lượng, nâng công suất các mỏ đủ điều kiện, rút ngắn thủ tục cấp phép và tăng cường kiểm tra liên ngành nhằm siết chặt việc niêm yết giá, niêm yết hóa đơn, chống đầu cơ, găm hàng và gian lận thương mại.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế Môi trường, một đơn vị xin được giấu tên tại xã Quảng Ninh có bến bãi tập kết VLXD và cũng là Công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cho biết, hiện nay có sự chênh lệch lớn giữa giá vật liệu xây dựng thực tế và đơn giá trong bảng dự toán của Nhà nước.
Cụ thể, đối với đá 1×2 nhập từ mỏ ở xã Trường Xuân, giá sỉ mua theo xe đầu kéo (30 – 40 khối) rơi vào khoảng 400.000 đồng/khối và giá bán lẻ tại bãi tập kết cho người dân dao động từ 450.000 đến 500.000 đồng/khối (chưa tính hóa đơn VAT). Nếu xuất hóa đơn phải cộng thêm tiền thuế, giá có thể đẩy lên mức từ 530.000 đến 630.000 đồng/khối. Trong khi đó, giá loại vật liệu này trong dự toán Nhà nước chỉ ở mức khoảng 320.000 đến 350.000 đồng/khối.

Tương tự, mặt hàng cát sỏi lòng sông có giá thực tế khoảng 220.000 đến 250.000 đồng/khối (chưa hóa đơn VAT), nhưng dự toán Nhà nước chỉ tính khoảng 220.000 đồng/khối.
Việc đơn giá vật liệu và nhân công thực tế (nhân công ngoài thị trường lên tới 450.000 – 500.000 đồng/ngày) cao hơn hẳn định mức dự toán khiến các nhà thầu thi công công trình vốn ngân sách đối mặt với nguy cơ lỗ nặng. Đáng chú ý, khoản chênh lệch giá cả này không có chính sách hỗ trợ hay bù trượt giá từ phía Nhà nước.
Bên cạnh bài toán về giá, nguồn cung vật liệu dù ở các mỏ dồi dào nhưng đôi lúc vẫn gặp tình trạng khan hiếm; việc lấy hàng không thể đáp ứng ngay lập tức mà phụ thuộc vào thời tiết, tình trạng máy móc, cũng như lượng hàng tồn tại bãi, buộc nhà thầu phải chủ động thời gian chờ đợi.

Nhìn từ kinh tế học môi trường, việc gia tăng khai thác và vận chuyển VLXD thiếu kiểm soát khi nhu cầu thị trường bùng nổ sẽ tạo ra chi phí ngoại ứng tiêu cực. Nói cách khác, đây là những tổn thất mà người dân và môi trường xung quanh phải gánh chịu, thay vì được tính đúng, tính đủ vào giá bán của doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp mỏ gia tăng quy mô và tối đa hóa sản lượng nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường nhưng lại coi nhẹ công tác bảo vệ môi trường, gánh nặng chi phí xã hội sẽ lập tức bộc lộ rõ nét: hạ tầng giao thông đường bộ bị cày xới, xuống cấp nghiêm trọng, cùng với đó là tình trạng ô nhiễm bụi mịn, tiếng ồn và nguy cơ mất an toàn giao thông đe dọa trực tiếp đến chất lượng sống của người dân.
Thực tiễn ở các điểm mỏ: Hàng loạt vấn đề môi trường phát sinh
Khảo sát thực tế của phóng viên Kinh tế Môi trường tại các vùng trọng điểm khai thác mỏ cho thấy, giữa hoạt động sản xuất của các đơn vị mỏ đá và môi trường sống của người dân vẫn chưa có tiếng nói chung.

Theo tìm hiểu, xã Lệ Ninh hiện có 8 điểm mỏ khoáng sản đang vận hành (bao gồm: Công ty TNHH SXVL và XD Gia Thịnh, Công ty CP Đầu tư phát triển Cosevco, Công ty CP SXVL và XDCT 405, Công ty TNHH TMXDTH Hoàng Văn tại QB, Công ty CP Sơn Thành, Công ty TNHH Hoàng Huy Toàn, Công ty CP COSEVCO 6 và Công ty TNHH Lộc Trường Thạch). Mật độ mỏ dày đặc cùng tần suất vận chuyển lớn đang đặt khu vực dân cư lân cận vào tình trạng bị bao vây bởi bụi bặm và tiếng ồn.
Tâm điểm phản ánh của người dân tập trung tại thôn Trung Lộc – địa bàn nằm sát các mỏ đá và tuyến đường vận chuyển chính.

Bà Trần Thị Lê (sinh năm 1972), hộ dân sống cách mỏ đá của Công ty TNHH Lộc Trường Thạch khoảng 300 m, chia sẻ về những bất cập do hoạt động khai thác đá gây ra đối với sinh hoạt gia đình.
Bà cho biết: “Mỏ đá hoạt động liên tục từ 6 giờ sáng đến 11 giờ đêm, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt và giấc ngủ của gia đình. Các xe chở đá trọng tải lớn chạy liên tục cả ngày lẫn đêm khiến bụi bặm bao trùm. Gia đình bà phải tự bỏ chi phí mua bạt che chắn quanh nhà nhưng vẫn không ngăn nổi bụi mịn”.

“Việc nổ mìn khai thác đá của Công ty TNHH Lộc Trường Thạch định kỳ 2 lần/ngày (vào khoảng 11 giờ trưa và 17 giờ chiều) tạo ra rung chấn mạnh. Tường nhà và các công trình phụ phía sau của gia đình tôi bắt đầu xuất hiện nhiều vết rạn nứt, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn về lâu dài”, bà Lê vừa nói vừa chỉ tay lên bức tường.

Cùng chung nỗi niềm, ông Lê Văn Thanh, cũng là hộ dân sống cách mỏ đá của Công ty TNHH Lộc Trường Thạch khoảng 300 m, cho biết: “Mỏ đá đi vào hoạt động khoảng 2 năm nay, thời gian vận hành kéo dài từ 6 giờ sáng đến 11 giờ đêm. Các đoàn xe tải trọng lớn ra vào chạy rầm rầm cả ngày lẫn đêm, gây ô nhiễm bụi và tiếng ồn lớn, ảnh hưởng đến giấc ngủ “.
Không chỉ dừng lại ở ô nhiễm không khí và tiếng ồn, áp lực tải trọng giao thông đang làm suy yếu nghiêm trọng kết cấu hạ tầng đường bộ tại địa phương.

Theo phản ánh của ông Nguyễn Đức Bắc (sinh năm 1963), tình trạng xe tải trọng lớn lưu thông với mật độ cao qua tuyến đường 15 cũ đã kéo dài hơn một năm nay. Tuyến đường này vốn có thiết kế chịu tải trọng nhỏ, nay lại trở thành lộ trình chính của hàng loạt đoàn xe 3 chân, 4 chân, xe tải trọng lớn chuyên chở vật liệu từ các mỏ đá trong vùng.

“Do các tuyến đường ngoài bị cấm, xe tải tập trung dồn hết vào tuyến đường 15 cũ, hoạt động bất kể ngày đêm, kéo dài từ 1, 2 giờ sáng cho đến tận rạng sáng. Tiếng động cơ gầm rú kết hợp tiếng va đập của thùng xe khi sập ổ gà tạo nên âm thanh chói tai khiến gia đình tôi ngủ không yên giấc. Vào mùa khô, bụi bay mù mịt tạt thẳng vào nhà dân. Không những thế, đường bị cày xới, hư hỏng nặng, mương thoát nước hai bên bị gãy vỡ, gây ngập úng vào mùa mưa, cản trở lớn đến việc đi lại, học hành của con em”, ông Bắc chia sẻ.
Cũng theo ông Bắc, để duy trì đường cho các loại xe chở đá lưu thông, các đơn vị chủ mỏ đã dùng đá tự san gạt tạm thời các vệt sụt lún, ổ gà. Tuy nhiên, giải pháp gượng ép này không qua lu nén, vô tình tạo ra mặt đường lổn nhổn, trơn trượt, gây nguy hiểm cho người dân khi điều khiển xe máy và phương tiện thô sơ.

Có thể thấy, sự phát triển của các điểm mỏ VLXD đang đặt ra bài toán hóc búa giữa lợi ích kinh tế trước mắt và chi phí khắc phục môi trường, hạ tầng dài hạn. Để giải quyết triệt để các tồn tại này, yêu cầu đặt ra không chỉ dừng ở sự tự giác của doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào năng lực kiểm tra, giám sát hạ tầng kỹ thuật và sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền cơ sở.
(Còn tiếp)
Minh Tâm