Bồng Miêu: Đánh đổi vốn tự nhiên và bài toán giải quyết “khoảng trống” môi trường trong thăm dò khoáng sản
Đề xuất cấp phép thăm dò khoáng sản trên diện tích 918,5 ha tại Bồng Miêu không chỉ là một dự án kinh tế đơn thuần, mà còn là phép thử lớn về năng lực quản trị tài nguyên địa phương. Đặt trong bối cảnh phát triển bền vững, nguồn nước và hệ sinh thái phải được coi là những tài sản vô giá, không thể mang ra đánh đổi. Bài viết chỉ ra những “khoảng trống” rủi ro cần được lấp đầy, đồng thời kiến nghị một cơ chế kiểm soát nghiêm ngặt để Bồng Miêu không lặp lại vết xe đổ: tư nhân hóa lợi nhuận nhưng lại xã hội hóa các “hóa đơn sinh thái”.
Nhận diện rủi ro từ một “tọa độ” lịch sử
Bồng Miêu không phải là một “khoảng trống” về môi trường. Đây là khu vực có lịch sử khai khoáng lâu đời, nơi từng tạo ra những đóng góp nhất định cho ngân sách, nhưng đồng thời để lại những hệ lụy dai dẳng về đất đai, nguồn nước, cảnh quan và sự suy giảm hệ sinh thái. “Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý khi xem xét đề nghị thăm dò mới”.

Giấy phép đề nghị thăm dò vàng tại khu vực Bồng Miêu, thuộc xã Phú Ninh và xã Trà Liên, thành phố Đà Nẵng.
Theo văn bản đề nghị cấp Giấy phép thăm dò khoáng sản ngày 24/8/2026, Công ty cổ phần Đầu tư thương mại Thủ Đô Gió Ngàn đề nghị thăm dò vàng tại khu vực Bồng Miêu, thuộc xã Phú Ninh và xã Trà Liên, thành phố Đà Nẵng.
Diện tích đề nghị thăm dò là 918,5 ha, thời gian dự kiến 48 tháng kể từ ngày được cấp phép. Doanh nghiệp xác định mục tiêu là thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng vàng trong các ngành công nghiệp, thương mại và trang sức, phù hợp với quy hoạch khoáng sản được phê duyệt.
Về mặt kinh tế, đây là tín hiệu cho thấy nguồn lực khoáng sản tại Bồng Miêu tiếp tục được quan tâm. Nhưng về mặt môi trường, một câu hỏi quan trọng phải được trả lời trước: hiện trạng môi trường của khu vực đang ở đâu và dự án mới sẽ làm phát sinh thêm những chi phí gì?

Mới đây, theo thực tế của PV Tạp chí Điện tử Kinh tế môi trường khảo sát tại khu vực Bồng Miêu vào tháng 7/2026 thì xuất hiện, hiện tượng cá chết tại một con suối sau cơn mưa đã khiến người dân lo ngại và đặt nghi vấn về hoạt động khai thác vàng trái phép.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa phản ánh, dấu hiệu bất thường và kết luận khoa học về nguyên nhân. Muốn xác định chính xác nguyên nhân phải dựa trên kết quả kiểm tra, lấy mẫu, phân tích và quan trắc của cơ quan chuyên môn.
Dù nguyên nhân cuối cùng được xác định như thế nào, sự việc vẫn cho thấy một yêu cầu rất rõ: nguồn nước tại Bồng Miêu cần được theo dõi chặt chẽ và phải có dữ liệu môi trường nền đầy đủ trước khi triển khai các hoạt động thăm dò mới.
Đây không chỉ là yêu cầu về bảo vệ môi trường mà còn là yêu cầu về quản trị tài nguyên.
Nếu không thiết lập được một hệ thống dữ liệu môi trường cơ sở đầy đủ về chất lượng nước, đất và sinh thái trước khi dự án mới bắt đầu, địa phương sẽ rơi vào thế bị động. Khi xảy ra ô nhiễm trong tương lai, cơ quan quản lý sẽ không thể phân định rạch ròi đâu là hậu quả tồn lưu của quá khứ, đâu là do “vàng tặc”, và đâu là tác động từ dự án mới.
Việc minh bạch hóa dữ liệu nền không chỉ là yêu cầu bắt buộc của quy trình Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) mà còn là công cụ quản trị tài nguyên, cho phép cộng đồng địa phương cùng tham gia giám sát một cách hiệu quả.

Nguồn nước là “vốn tự nhiên”, không phải “vật hy sinh”
Dưới góc nhìn kinh tế môi trường, nguồn nước sạch là một dạng vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng. Nó duy trì sự sống, phục vụ sản xuất nông nghiệp và mang lại những giá trị kinh tế khổng lồ – dù không phải lúc nào cũng được phản ánh trực tiếp trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Trong hoạt động khai khoáng, nguy cơ suy thoái nguồn nước là cực kỳ lớn. Quá trình đào xới, bóc tách đất đá, vận chuyển và sử dụng hóa chất nếu không được kiểm soát nghiêm ngặt sẽ phá vỡ cấu trúc địa chất thủy văn. Hệ lụy kéo theo là những khoản chi phí khổng lồ đổ lên vai xã hội: người dân phải mua nước sạch với giá cao hơn, sản xuất nông nghiệp đình trệ, đa dạng sinh học suy giảm, và ngân sách nhà nước phải “gồng gánh” chi phí xử lý ô nhiễm.
Theo đó, một khi nguồn nước bị suy giảm chất lượng, chi phí xã hội có thể rất lớn. Người dân có thể phải chi thêm tiền cho nước sạch; hoạt động sản xuất có thể bị ảnh hưởng; hệ sinh thái thủy sinh suy giảm; cơ quan quản lý phải tăng chi phí quan trắc, xử lý và phục hồi.
Cho thấy, cần nhìn rõ rằng diện tích đề nghị thăm dò 918,5 ha không đồng nghĩa toàn bộ diện tích sẽ bị đào xới hoặc tác động trực tiếp.
Tuy nhiên, hoạt động thăm dò vẫn có thể cần đến các tuyến đường tiếp cận, vị trí khoan, khu vực tập kết máy móc, vật tư và những công trình phục vụ khảo sát. Mỗi hoạt động như vậy đều có thể tạo ra chi phí môi trường nhất định.
Qua đó, nguyên tắc cần đặt ra là giảm tối đa diện tích bị tác động thực tế, tận dụng hạ tầng hiện có khi phù hợp, hạn chế mở đường mới, lựa chọn vị trí khoan hợp lý và hoàn trả mặt bằng ngay sau khi kết thúc từng hạng mục.
Bên cạnh đó, hiệu quả của thăm dò không chỉ được tính bằng số lượng mẫu thu được hay mức độ xác định tài nguyên, mà còn phải tính bằng lượng đất, nước, năng lượng và tài nguyên môi trường đã sử dụng để tạo ra lượng thông tin đó.

Nếu hoạt động thăm dò làm xáo trộn mặt đất, tạo đường tạm hoặc phát sinh chất thải, việc hoàn trả phải được thực hiện theo đúng phương án được phê duyệt.
Phải tính chi phí phục hồi ngay từ đầu
Một sai lầm thường gặp trong các dự án tài nguyên là coi phục hồi môi trường như công việc thực hiện sau cùng. Với Bồng Miêu, cách tiếp cận này cần được thay đổi.
Theo đó, ngay từ giai đoạn thăm dò, doanh nghiệp cần xác định rõ phương án phục hồi đối với các khu vực bị tác động. Các khoản chi cho phục hồi phải được tính vào tổng chi phí của dự án.
Nếu hoạt động thăm dò làm xáo trộn mặt đất, tạo đường tạm hoặc phát sinh chất thải, việc hoàn trả phải được thực hiện theo đúng phương án được phê duyệt.
Cùng với đó, nếu sau này dự án chuyển sang khai thác, chi phí phục hồi đất, xử lý chất thải, bảo vệ nguồn nước và đóng cửa mỏ phải được tính trong toàn bộ vòng đời dự án. Khi đó, doanh nghiệp sẽ có động lực lựa chọn công nghệ tiết kiệm tài nguyên, giảm chất thải và giảm rủi ro ô nhiễm ngay từ đầu.
Qua đó, nếu kết quả thăm dò cho thấy Bồng Miêu có tiềm năng khai thác, bài toán kinh tế không nên dừng ở câu hỏi “có bao nhiêu vàng”.
Cần trả lời đồng thời: Giá trị vàng thu được là bao nhiêu?; Ngân sách và địa phương nhận được bao nhiêu giá trị?; Dự án tạo ra bao nhiêu việc làm và giá trị dịch vụ?; Cần sử dụng bao nhiêu nước, đất và năng lượng?; Phát sinh bao nhiêu chất thải?; Chi phí kiểm soát và phục hồi môi trường là bao nhiêu?; Rủi ro đối với nguồn nước và cộng đồng được kiểm soát bằng cách nào?
Khi tất cả các yếu tố được đưa vào cùng một phép tính, mới có thể xác định dự án thực sự tạo ra bao nhiêu giá trị ròng cho xã hội.
Theo đó, trước khi triển khai thăm dò, cần thiết lập một hệ thống dữ liệu nền đủ tin cậy về chất lượng nước mặt, nước ngầm, đất, trầm tích, hệ sinh thái và các yếu tố môi trường liên quan.
Đặc biệt, các khu vực có nguy cơ nhạy cảm cần được xác định rõ để có phương án bảo vệ phù hợp.
Trong suốt 48 tháng thăm dò, dữ liệu phải được cập nhật định kỳ. Những biến động bất thường cần được phát hiện sớm và xử lý ngay, thay vì chờ đến khi tác động trở thành sự cố.
Đồng thời, thông tin môi trường cần được công khai ở mức phù hợp để người dân địa phương có thể tham gia giám sát.
Cùng với đó, một khoản đầu tư cho quan trắc, phòng ngừa và kiểm soát rủi ro từ sớm có thể giúp tránh những khoản chi phí lớn hơn nhiều nếu xảy ra ô nhiễm nguồn nước hoặc suy thoái hệ sinh thái. Bồng Miêu có thể có thêm cơ hội phát triển kinh tế nếu nguồn tài nguyên được đánh giá đúng và khai thác theo công nghệ phù hợp.
Theo đó, đối với đề nghị thăm dò vàng Bồng Miêu, điều cần thiết không phải là lựa chọn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, mà là thiết kế một phương án trong đó hai mục tiêu này cùng được bảo đảm.
Đó là nguyên tắc cốt lõi để biến vàng Bồng Miêu từ một nguồn tài nguyên dưới lòng đất thành giá trị kinh tế ròng cho cộng đồng, thay vì để lại một khoản “hóa đơn môi trường” mà xã hội phải thanh toán về sau.
Với Bồng Miêu, thăm dò 918,5 ha trong 48 tháng vì thế không chỉ là câu chuyện tìm kiếm vàng. Đây còn là cơ hội để thiết lập một chuẩn quản trị mới: tính đúng giá trị tài nguyên, tính đủ chi phí môi trường và bảo đảm không đánh đổi vốn tự nhiên lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin về đề xuất thăm dò khai thác vàng tại Bồng Miêu dưới góc nhìn kinh tế môi trường.
Trọng Nghị