Kinh doanh

VWS – Đa Phước, “đế chế” xử lý rác phía Nam và những tài sản nghìn tỷ phía sau bãi rác (Bài 4)

Thứ sáu, 02/10/2026 13:30
QUẢNG CÁO Liên hệ Quảng cáo iSocial Vietnam
TÓM TẮT & GÓC NHÌN ISOCIAL
Tin tức được iSocial Vietnam tổng hợp & biên tập theo Giấy phép số 8095/GP-TTĐT. Cung cấp góc nhìn trọng tâm, tổng hợp tin tức đa chiều cho độc giả.

Gần 20 năm vận hành bãi rác lớn nhất TP.HCM, VWS không chỉ nắm giữ lượng rác khổng lồ mà còn sở hữu hệ thống tài sản nghìn tỷ từ quyền thu phí đến hạ tầng từng được thế chấp tại một số nhà băng.

QUẢNG CÁO IN-READ
Vị trí Quảng cáo giữa bài viết (300x250 / Responsive) / Google AdSense In-Read Banner

LTS: Rác đang trở thành một ngành kinh tế như thế nào?

Mỗi ngày, hàng chục nghìn tấn rác được thải ra từ các đô thị, khu dân cư, nhà máy và hoạt động sản xuất. Nếu trước đây chất thải chủ yếu được nhìn nhận như một bài toán vệ sinh môi trường và chi phí xã hội, thì cùng với quá trình đô thị hóa, yêu cầu giảm chôn lấp và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, rác đang dần trở thành một nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế.

Phía sau mỗi tấn rác là cả một chuỗi dịch vụ và dòng tiền: thu gom, vận chuyển, xử lý, chôn lấp, đốt phát điện, tái chế, thu hồi vật liệu và xử lý các sản phẩm sau quá trình đốt. Hàng loạt dự án có tổng vốn hàng nghìn tỷ đồng đang được triển khai, trong khi các doanh nghiệp môi trường ngày càng tham gia sâu hơn vào lĩnh vực điện rác, tái chế và xử lý chất thải công nghiệp, chất thải nguy hại.

Nhưng ai đang sở hữu những “mỏ rác” này? Doanh nghiệp kiếm tiền từ rác thế nào? Đâu là những tài sản thực sự có giá trị trong ngành môi trường? Và khi Việt Nam chuyển từ chôn lấp sang đốt rác phát điện, tái chế và kinh tế tuần hoàn, dòng tiền trong ngành sẽ thay đổi ra sao?

Đây cũng là một thị trường có những nghịch lý không dễ nhìn thấy. Nhu cầu xử lý rác rất lớn nhưng không phải dự án nào cũng có hiệu quả tài chính; vốn đầu tư cho công nghệ cao, thời gian thu hồi vốn dài, trong khi giá dịch vụ xử lý, cơ chế mua điện và nguồn rác đầu vào quyết định trực tiếp đến khả năng vận hành của doanh nghiệp.

Với loạt bài “Thị trường rác Việt Nam: Ai đang sở hữu “mỏ vàng” nghìn tỷ?”, Tạp chí Kinh tế Môi trường sẽ đi từ những con số về lượng rác phát sinh đến những doanh nghiệp đang sở hữu nhà máy, công nghệ và hạ tầng xử lý chất thải; từ các dự án điện rác quy mô nghìn tỷ đến những doanh nghiệp môi trường đang hiện diện trên thị trường chứng khoán.

Thông qua các dữ liệu về vốn đầu tư, công suất xử lý, doanh thu, lợi nhuận, cổ đông, dự án và dòng tiền, loạt bài hướng tới phác họa bản đồ kinh tế phía sau ngành rác Việt Nam – nơi chất thải đang từng bước được nhìn nhận không chỉ là thứ cần loại bỏ, mà còn là nguồn nguyên liệu cho một nền kinh tế tuần hoàn.

Bài 4: VWS – Đa Phước, “đế chế” xử lý rác phía Nam và những tài sản nghìn tỷ phía sau bãi rác

Gần 20 năm tiếp nhận và xử lý rác cho TP.HCM, Khu liên hợp xử lý chất thải Đa Phước đã trở thành một mắt xích quan trọng trong hệ thống xử lý chất thải của thành phố. Đằng sau “đế chế” này là một hệ thống tài sản gồm quyền tài sản từ hợp đồng xử lý rác, công trình, máy móc, phương tiện và nhà máy xử lý nước thải từng được VWS đăng ký làm tài sản bảo đảm tại BIDV. Trong khi đó, doanh nghiệp đang đứng trước bước chuyển lớn sang điện rác với dự án công suất 50-60 MW.

Ai đứng sau “đế chế” xử lý rác Đa Phước?

Công ty TNHH Xử lý chất thải Việt Nam (VWS) được thành lập tháng 12/2005, tiền thân là Công ty TNHH Xử lý chất thải rắn Việt Nam. Trụ sở doanh nghiệp hiện đặt tại TP.HCM.

VWS là công ty con 100% vốn của California Waste Solutions (CWS), doanh nghiệp có trụ sở tại Mỹ. CWS được thành lập năm 1992 bởi ông David Dương và hoạt động trong lĩnh vực tái chế, thu hồi tài nguyên và xử lý chất thải. Theo thông tin CWS công bố, VWS là đơn vị vận hành Khu liên hợp xử lý chất thải Đa Phước tại TP.HCM.

Dữ liệu Tạp chí Kinh tế Môi trường cho thấy, tại thời điểm tháng 6/2025, VWS có vốn điều lệ gần 476 tỷ đồng, chủ sở hữu là California Waste Soltution (trụ sở tại Mỹ). Toàn bộ vốn doanh nghiệp được ủy quyền cho bà Huỳnh Thị Lan Phương nắm giữ.

VWS – Đa Phước, “đế chế” xử lý rác phía Nam và những tài sản nghìn tỷ phía sau bãi rác (Bài 4) - Ảnh 1
Trụ sở Công ty TNHH Xử lý chất thải Việt Nam (VWS).

Về nhân sự, bà Huỳnh Thị Lan Phương (SN 1973) là đại diện pháp luật kiêm Phó Tổng Giám đốc. Ông Dương David Trung (SN 1958) giữ chức Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty.

Theo CWS, khoảng 200 triệu USD đã được đầu tư vào khu phức hợp Đa Phước hiện hữu; khoản đầu tư này tách biệt với dự án điện rác 50-60 MW đang được đề xuất.

Khu liên hợp Đa Phước được triển khai từ giữa những năm 2000 và bắt đầu tiếp nhận rác từ năm 2007. Theo CWS, khu xử lý có diện tích khoảng 341 acre, tương đương gần 138 ha, và hiện có thể tiếp nhận tới 6.500 tấn rác sinh hoạt/ngày, tương đương khoảng 2,4 triệu tấn/năm. Doanh nghiệp cho biết lượng rác này chiếm hơn một nửa lượng rác sinh hoạt phát sinh từ các hộ dân tại TP.HCM.

Tuy nhiên, lượng rác thực tế được điều phối về Đa Phước có thể thay đổi theo từng thời kỳ. Chẳng hạn, theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM được Tuổi Trẻ dẫn lại vào tháng 2/2026, Đa Phước tiếp nhận trung bình khoảng 4.550 tấn/ngày, tương đương 443 chuyến xe.

Một tấn rác đi vào Đa Phước được khai thác như thế nào?

Theo VWS, hoạt động tại Đa Phước bao gồm chôn lấp hợp vệ sinh, tái chế và thu hồi vật liệu, sản xuất compost, xử lý nước rỉ rác và nước thải, tái sử dụng nước sau xử lý, thu gom khí bãi rác và phát điện.

Đây là điểm quan trọng trong mô hình kinh doanh của VWS.

Nếu mô hình truyền thống chỉ xem rác là chất thải cần được thu gom và chôn lấp, thì mô hình tại Đa Phước tìm cách khai thác nhiều lớp giá trị hơn từ cùng một dòng vật chất.

VWS – Đa Phước, “đế chế” xử lý rác phía Nam và những tài sản nghìn tỷ phía sau bãi rác (Bài 4) - Ảnh 2
Khu xử lý, chôn lấp rác thải tại Đa Phước. Ảnh: Báo Thanh Niên.

Vật liệu có khả năng tái chế được thu hồi. Chất hữu cơ có thể được xử lý theo hướng sản xuất compost. Nước rỉ rác được xử lý trước khi tái sử dụng hoặc xả theo quy định. Trong khi đó, khí sinh ra trong quá trình phân hủy rác tại bãi chôn lấp được thu gom để phát điện.

CWS cho biết hệ thống thu gom khí bãi rác tại Đa Phước đã hoạt động trong nhiều năm và lượng điện sản xuất từ khí bãi rác đủ để phục vụ hoạt động của khu liên hợp.

Như vậy, điện không phải câu chuyện mới tại Đa Phước. Điểm mới nằm ở việc VWS đang muốn nâng quy mô thu hồi năng lượng lên một cấp độ khác.

Tháng 9/2026, CWS công bố kế hoạch VWS đề xuất xây dựng nhà máy chuyển hóa chất thải thành năng lượng công suất 50-60 MW tại Khu liên hợp xử lý chất thải Đa Phước, đồng thời bổ sung các dây chuyền tái chế chuyên biệt.

Theo CWS, dự án đang trong quá trình thẩm định và thực hiện các thủ tục cấp phép. Nhà máy mới sẽ xử lý phần chất thải sinh hoạt còn lại sau khi thu hồi các vật liệu có khả năng tái chế, qua đó giảm lượng chất thải phải chôn lấp cuối cùng.

Điểm đáng chú ý là dự án điện rác này không nằm trong khoản khoảng 200 triệu USD đã đầu tư vào khu Đa Phước hiện hữu.

VWS – Đa Phước, “đế chế” xử lý rác phía Nam và những tài sản nghìn tỷ phía sau bãi rác (Bài 4) - Ảnh 3
Ông David Dương (tên Việt Nam là Dương Tử Trung), Tổng giám đốc VWS

Nói cách khác, VWS đang đứng trước một vòng đầu tư mới, với mục tiêu chuyển Đa Phước từ mô hình xử lý dựa nhiều vào chôn lấp sang mô hình kết hợp xử lý – tái chế – thu hồi tài nguyên – phát điện.

Nếu được triển khai, đây sẽ là bước chuyển đáng kể trong cấu trúc tài sản của Đa Phước.

Không chỉ thế chấp máy móc, VWS từng đem cả dòng tiền xử lý rác bảo đảm tại BIDV

Quy mô của hệ thống Đa Phước còn có thể nhìn thấy qua các hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm.

Dữ liệu Tạp chí Kinh tế Môi trường cho thấy, VWS đã nhiều lần đăng ký các quyền tài sản, công trình, máy móc, thiết bị và phương tiện liên quan đến Khu liên hợp xử lý chất thải Đa Phước làm tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) Chi nhánh TP.HCM.

Một trong những hồ sơ được ghi nhận sớm nhất là đăng ký giao dịch bảo đảm số BB07007148BD, thực hiện ngày 22/6/2007.

Tại thời điểm này, bên bảo đảm là Công ty TNHH Xử lý Chất thải Rắn Việt Nam, địa chỉ tại số 42 Lý Văn Phức, phường Tân Định, quận 1, TP.HCM. Bên nhận bảo đảm là Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP.HCM.

Đáng chú ý, tài sản bảo đảm trong hồ sơ không phải một công trình hay máy móc cụ thể.

Đó là bất kỳ khoản tiền hoặc khoản thanh toán bằng tiền nào mà doanh nghiệp nhận được từ Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, cùng toàn bộ quyền, lợi ích và yêu cầu thanh toán hiện tại và trong tương lai liên quan đến hợp đồng giao, nhận và xử lý chất thải rắn ký ngày 28/2/2006 và phụ lục hợp đồng ngày 6/5/2006.

Chi tiết này cho thấy ngay từ giai đoạn đầu của dự án, dòng tiền hình thành từ hợp đồng xử lý rác với cơ quan quản lý nhà nước đã được sử dụng như một loại quyền tài sản có thể đưa vào giao dịch bảo đảm.

Đây cũng là một đặc điểm đáng chú ý của lĩnh vực xử lý rác: bên cạnh đất đai, nhà máy hay máy móc, chính các khoản phải thu và quyền nhận tiền từ hợp đồng dịch vụ xử lý chất thải cũng có thể trở thành tài sản có giá trị tài chính.

Đến năm 2012, chuỗi hồ sơ bảo đảm tiếp tục được mở rộng.

Ngày 30/10/2012, đăng ký thay đổi số 11646681 được thực hiện, trong đó thay đổi tên bên nhận bảo đảm thành Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh TP.HCM.

Ngày 8/11/2012, giao dịch bảo đảm số 1138672534, theo hợp đồng số 02-2012/1089518 ngày 24/9/2012, được đăng ký lần đầu.

Theo hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm, VWS đã sử dụng các khoản tiền và quyền tài sản phát sinh từ hoạt động xử lý chất thải để bảo đảm nghĩa vụ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh TP.HCM (BIDV).

Cụ thể, tài sản bảo đảm bao gồm bất kỳ khoản tiền hoặc khoản thanh toán bằng tiền mà doanh nghiệp nhận được từ Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, cùng toàn bộ quyền, lợi ích và yêu cầu thanh toán hiện tại và trong tương lai liên quan đến Hợp đồng giao, nhận và xử lý chất thải rắn ngày 28/2/2006 và Phụ lục hợp đồng ngày 6/5/2006.

Đáng chú ý hơn là giao dịch được đăng ký chỉ một tuần sau đó, ngày 15/11/2012, theo hợp đồng số 01-2012/1089518/HĐTC ngày 24/9/2012.

Lần này, tài sản bảo đảm được mô tả cụ thể gồm các công trình phụ trợ khác, máy móc thiết bị và phương tiện vận tải đầu tư trong Bước 2 – Dự án Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước.

Giá trị ước tính của nhóm tài sản này được hồ sơ ghi nhận khoảng 483 tỷ đồng.

Đây là một con số đáng chú ý bởi nó cho thấy tài sản phục vụ Đa Phước không chỉ nằm ở khu vực chôn lấp mà còn bao gồm một hệ thống công trình phụ trợ, thiết bị và phương tiện phục vụ vận hành.

Tiếp tục bổ sung máy móc, thiết bị và nhà máy xử lý nước thải

Năm 2013, VWS tiếp tục đăng ký giao dịch bảo đảm số 1152981854, theo hợp đồng số 38/2013/1089518 ngày 12/12/2013, đăng ký ngày 16/12/2013.

Tài sản bảo đảm lần này là máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải đầu tư của dự án đầu tư bổ sung Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước.

Đến ngày 25/3/2015, hàng loạt đăng ký thay đổi tiếp tục được thực hiện.

Các đăng ký số 12185092, 12185099 và 12185111 đều ghi nhận việc thay đổi tên bên bảo đảm nhưng “không thay đổi tài sản”.

Đáng chú ý, ngày 30/3/2015, đăng ký số 12189354 bổ sung mô tả chi tiết tài sản bảo đảm, gồm các công trình phụ trợ xây dựng trên đất của dự án đầu tư bổ sung Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước.

Đến năm 2018, tài sản bảo đảm tiếp tục mở rộng sang một mắt xích quan trọng khác của hệ thống xử lý chất thải.

Ngày 22/1/2018, giao dịch bảo đảm số 1276554469, theo hợp đồng số 01/2017/1089518/HĐBĐ ký ngày 25/9/2017, được đăng ký lần đầu.

Tài sản bảo đảm là hệ thống máy móc, thiết bị của nhà máy xử lý nước thải thuộc Khu liên hợp xử lý chất thải Đa Phước.

Như vậy, nhìn xuyên suốt các hồ sơ từ năm 2007 đến 2018, các tài sản liên quan Đa Phước từng được đưa vào đăng ký bảo đảm tại BIDV theo nhiều lớp: quyền nhận tiền từ hợp đồng xử lý rác; các khoản thanh toán; công trình phụ trợ; máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải và hệ thống máy móc của nhà máy xử lý nước thải.

Điều này phần nào cho thấy quy mô tài sản vật chất và dòng tiền phía sau một khu xử lý rác lớn như Đa Phước.

Bài toán 41 triệu tấn: Đa Phước đứng trước bước ngoặt

Trong khi chuẩn bị chuyển đổi công nghệ, VWS cũng đang đề xuất mở rộng năng lực tiếp nhận chôn lấp của Đa Phước.

Tháng 5/2026, VWS đề xuất nâng năng lực tiếp nhận chôn lấp hợp vệ sinh của dự án từ 24 triệu tấn lên 41 triệu tấn chất thải rắn sinh hoạt, đồng thời điều chỉnh công nghệ chế biến phân bón với công suất 100 tấn sản phẩm/ngày đêm. Đề xuất đang được các cơ quan chức năng xem xét.

Theo hồ sơ thiết kế cơ sở được Bộ Xây dựng thẩm định trước đây, quy mô công suất thiết kế của bãi chôn lấp Đa Phước là 24 triệu m³. Trong khi đó, VWS cho biết đến nay đã tiếp nhận khoảng 31,5 triệu tấn rác.

Chính sự khác biệt về đơn vị đo này khiến câu chuyện sức chứa của Đa Phước cần được nhìn nhận thận trọng.

TP.HCM đã đề nghị các cơ quan chuyên môn và VWS xác định khả năng tiếp nhận tính theo tấn tương ứng với công suất thiết kế 24 triệu m³.

Tháng 6/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng phản hồi rằng việc tiếp nhận, xử lý chất thải rắn sinh hoạt vượt tổng công suất được phê duyệt là chưa phù hợp với hồ sơ, thủ tục môi trường hiện hành.

Trong khi đó, TP.HCM vẫn cần Đa Phước trong giai đoạn chuyển tiếp. Theo thành phố, các dự án chuyển đổi công nghệ xử lý rác và dự án mới dự kiến được triển khai trong giai đoạn cuối năm 2026-2028; trong thời gian chờ các dự án này, thành phố vẫn phải điều phối một lượng lớn rác về Đa Phước để bảo đảm an ninh xử lý chất thải.

Từ “bãi rác” đến tài sản năng lượng

Ngày 10/2/2026, TP.HCM và VWS đã ký thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến hợp đồng xử lý rác tại Đa Phước, khép lại những vướng mắc liên quan đến hợp đồng tồn tại từ năm 2014. Theo thỏa thuận, hai bên tiếp tục phối hợp để duy trì hoạt động xử lý chất thải ổn định; VWS đồng thời định hướng tăng cường đầu tư và tái đầu tư, chuyển đổi công nghệ xử lý rác.

Động thái này diễn ra trong bối cảnh Đa Phước đang đứng trước hai hướng phát triển song song.

Một mặt, VWS muốn bảo đảm năng lực tiếp nhận rác trong giai đoạn chuyển tiếp, thể hiện qua đề xuất nâng công suất chôn lấp lên 41 triệu tấn.

Mặt khác, doanh nghiệp đang thúc đẩy chuyển đổi công nghệ, với đề xuất nhà máy điện rác 50-60 MW và các dây chuyền tái chế mới.

Hai câu chuyện tưởng như đối lập nhưng thực tế lại phản ánh đúng giai đoạn chuyển tiếp của ngành xử lý rác.

Chôn lấp vẫn là nguồn lực đang tạo ra dòng tiền và bảo đảm năng lực xử lý hiện tại; điện rác và tái chế là hướng đi nhằm nâng giá trị của dòng chất thải trong tương lai.

Nếu dự án điện rác được triển khai, Đa Phước sẽ có thêm một lớp tài sản mới: thay vì đưa toàn bộ phần rác còn lại vào chôn lấp, doanh nghiệp có thể sử dụng phần chất thải phù hợp làm đầu vào cho quá trình phát điện.

Khi đó, giá trị kinh tế của một tấn rác có thể được hình thành từ nhiều nguồn: phí xử lý, vật liệu thu hồi, compost, khí bãi rác và điện năng.

“Mỏ rác” lớn và bài toán biến tài sản thành dòng tiền

Nhìn từ các hồ sơ giao dịch bảo đảm, Đa Phước không chỉ là một khu đất chứa rác. Đằng sau đó là cả một hệ thống tài sản được tích lũy qua nhiều năm: quyền tài sản từ hợp đồng xử lý chất thải, công trình phụ trợ, máy móc, phương tiện vận tải, nhà máy xử lý nước thải và hệ thống thu hồi khí.

Đáng chú ý, ngay từ năm 2007, dòng tiền từ hợp đồng xử lý rác với TP.HCM đã được sử dụng làm quyền tài sản bảo đảm. Đến năm 2012, nhóm công trình phụ trợ, máy móc, thiết bị và phương tiện vận tải thuộc Bước 2 của dự án được ghi nhận giá trị ước tính 482,946 tỷ đồng.

Gần 20 năm sau, bài toán của VWS đã bước sang một cấp độ khác.

Không chỉ là xử lý bao nhiêu tấn rác, mà là mỗi tấn rác tạo ra bao nhiêu giá trị.

Đó cũng là lý do dự án điện rác 50-60 MW có ý nghĩa đặc biệt đối với Đa Phước. Nếu được triển khai, dự án sẽ tạo thêm một hướng khai thác giá trị từ lượng rác mà trước đây phần lớn được xử lý bằng phương án chôn lấp.

Còn với VWS, thách thức phía trước không chỉ nằm ở vốn đầu tư hay công nghệ. Doanh nghiệp phải đồng thời giải bài toán nguồn rác đầu vào, công suất xử lý, tiêu thụ điện, hiệu quả thu hồi tài nguyên, chi phí vận hành và các thủ tục pháp lý.

Từ một dự án xử lý rác được hình thành cách đây gần hai thập kỷ, Đa Phước đang đứng trước một cuộc chuyển đổi lớn: từ nơi tiếp nhận rác thành một tổ hợp tài sản môi trường – năng lượng, nơi rác không chỉ được xử lý mà còn được tìm cách biến thành tài nguyên và dòng tiền.

Có thể thấy “cuộc chơi” xử lý rác tại TP.HCM đang dần chuyển từ mô hình tiếp nhận, chôn lấp sang những tổ hợp xử lý có quy mô lớn hơn, khai thác thêm giá trị từ rác thải. Nếu VWS gắn với một khu liên hợp xử lý rác đã hình thành từ nhiều năm, thì tại khu vực Tây Bắc TP.HCM, VietStar đang theo đuổi một hướng đi khác với dự án tích hợp xử lý chất thải trị giá 3.500 tỷ đồng.

Ở bài tiếp theo, Tạp chí Kinh tế Môi trường sẽ tìm hiểu “cuộc chơi” điện rác của VietStar với tham vọng xử lý 2.000 tấn rác mỗi ngày.

O.L

📌 Tuyên bố bản quyền & Nguồn tin tổng hợp:
Bài viết được tổng hợp từ nguồn Kinh tế Môi trường. iSocial.vn vận hành dưới hình thức Trang thông tin điện tử tổng hợp theo Giấy phép số 8095/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử cấp ngày 28/07/2026. Mọi nội dung trích dẫn đều tuân thủ đúng quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.
QUẢNG CÁO Liên hệ Quảng cáo iSocial Vietnam
Kinh tế Môi trường
Theo Kinh tế Môi trường
10/02/2026 13:30 (GMT +7)

Tin liên quan