Kinh doanh

Phí rác không chỉ là chuyện tăng giá: Từ bằng chứng về sẵn lòng chi trả đến cơ chế quản lý mới cho Hà Nội

Thứ bảy, 15/08/2026 11:00
QUẢNG CÁO Liên hệ Quảng cáo iSocial Vietnam
TÓM TẮT & GÓC NHÌN ISOCIAL
Tin tức được iSocial Vietnam tổng hợp & biên tập theo Giấy phép số 8095/GP-TTĐT. Cung cấp góc nhìn trọng tâm, tổng hợp tin tức đa chiều cho độc giả.

TP.Hà Nội đang bước vào giai đoạn chuyển dịch quan trọng trong cải cách quản lý chất thải rắn sinh hoạt: phân loại tại nguồn được cụ thể hóa, giá dịch vụ được điều chỉnh theo lộ trình, trong khi yêu cầu giảm chôn lấp và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn…

QUẢNG CÁO IN-READ
Vị trí Quảng cáo giữa bài viết (300x250 / Responsive) / Google AdSense In-Read Banner

Áp lực tài chính cho quá trình chuyển dịch này rất lớn. Mỗi ngày Hà Nội phát sinh khoảng 7.500 tấn rác; năm 2024, tổng thu phí rác gần 568 tỷ đồng, trong khi chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý gần 2.300 tỷ đồng [1]. Khoảng cách đó đòi hỏi vừa huy động thêm nguồn lực, vừa tạo động lực giảm phát sinh và phân loại rác.

Theo khung pháp lý hiện hành, Luật Bảo vệ môi trường 2020 quy định phân loại chất thải rắn sinh hoạt thành ba nhóm và tính giá dịch vụ theo khối lượng hoặc thể tích sau phân loại [2], được cụ thể hóa bằng hướng dẫn kỹ thuật [3]. Kế hoạch hành động quốc gia về kinh tế tuần hoàn đến năm 2035 nhấn mạnh giảm phát sinh và thu hồi giá trị vật liệu [4].

Tại Hà Nội, Quyết định 4996/QĐ-UBND quy định giá giai đoạn 2026-2027 theo khối lượng; nơi chưa đủ điều kiện tạm thời áp dụng mức thu theo đầu người, với mức tại phường tăng từ 10.000 lên 30.000 đồng/người/tháng và tại xã từ 8.000 lên 17.000 đồng/người/tháng [5]. Quyết định 5771/QĐ-UBND quy định giá tối đa đối với các hoạt động dịch vụ [6], còn Quyết định 87/2025/QĐ-UBND hoàn thiện khung quản lý đối với hộ gia đình, cá nhân [7].

Do đó, vấn đề không chỉ là tăng giá bao nhiêu, mà là thiết kế giá như thế nào để giảm rác, thúc đẩy phân loại và bảo đảm chất lượng dịch vụ tương xứng.

Để kết nối bằng chứng nghiên cứu với thiết kế chính sách quản lý chất thải rắn sinh hoạt, Hình 1 khái quát mối liên hệ từ bằng chứng về sẵn lòng chi trả và các điều kiện tạo nên sự chấp nhận đến cơ chế quản lý đề xuất và kết quả kỳ vọng cho Hà Nội.

Phí rác không chỉ là chuyện tăng giá: Từ bằng chứng về sẵn lòng chi trả đến cơ chế quản lý mới cho Hà Nội - Ảnh 1
Hình 1. Cơ chế quản lý rác thải đề xuất cho Hà Nội. Nguồn: Tác giả thiết kế với sự hỗ trợ của ChatGPT.

1. Bằng chứng mới: sẵn lòng chi trả là có thật, nhưng có điều kiện

Nghiên cứu công bố trên tạp chí Sustainability khảo sát 487 hộ tại 11 xã, phường ở Hải Phòng, kết hợp phương pháp định giá ngẫu nhiên với mô hình Bayesian trong khung Tháp văn hóa (Culture Tower) [8]. Có 79,26% hộ sẵn lòng chi trả cho dịch vụ tốt hơn; WTP trung bình khoảng 60.200 đồng/hộ/tháng; 92,81% mong muốn cải thiện dịch vụ và 65,30% cho biết có phân loại rác tại nguồn. Đây là tín hiệu đáng chú ý về nguồn lực xã hội cho cải thiện môi trường.

Giá trị chính sách quan trọng hơn nằm ở các yếu tố phía sau mức sẵn lòng chi trả (WTP). WTP ước tính cao hơn có liên hệ với thu nhập, phân loại rác, mong muốn cải thiện dịch vụ, nhận thức về ô nhiễm và mùi khó chịu; trong khi mức hài lòng cao hơn với dịch vụ hiện tại gắn với WTP bổ sung thấp hơn. Theo Tháp văn hóa, nhận thức (Knowledge) chuyển thành hành động (Action), người dân hưởng thụ giá trị từ dịch vụ tốt hơn (Utility), từ đó củng cố đóng góp (Contribution). Tăng phí trước khi chất lượng và lợi ích trở nên hữu hình có thể làm suy yếu sự chấp nhận.

Tuy nhiên, 60.200 đồng/hộ/tháng không phải là “mức phí tối ưu” cho Hà Nội. Nghiên cứu được thực hiện ở Hải Phòng và WTP được nêu trong kịch bản giả định; tác giả cũng lưu ý giới hạn về khả năng khái quát hóa và sai lệch giả định [8]. Hà Nội nên sử dụng kết quả này để hiểu các điều kiện tạo nên sự chấp nhận chính sách, thay vì sao chép cơ học con số biểu giá.

2. Từ thu theo đầu người đến “xả nhiều, trả nhiều”

Theo Quyết định 4996/QĐ-UBND, mức 30.000 đồng/người/tháng tại phường từ quý III/2027 tương ứng khoảng 120.000 đồng/tháng với hộ bốn người; ở mức khởi điểm năm 2026, con số này khoảng 40.000 đồng/tháng [5]. Không thể so sánh trực tiếp với WTP ở Hải Phòng do khác địa bàn và kịch bản dịch vụ, nhưng thu theo đầu người nên được xem là giải pháp chuyển tiếp.

Nguyên tắc phù hợp hơn về kinh tế môi trường là pay-as-you-throw (PAYT), tức “xả nhiều, trả nhiều”. OECD cho thấy tính phí theo khối lượng, thể tích hoặc tần suất thu gom nhìn chung giúp giảm rác hỗn hợp và khuyến khích phân loại [9]. Luật Bảo vệ môi trường 2020 cũng đặt nền tảng cho chi trả theo lượng chất thải sau phân loại và quy định mốc thực hiện chậm nhất ngày 31/12/2024 [2]. Với Hà Nội, cơ sở pháp lý và biểu giá theo khối lượng đã có; thách thức hiện nay là triển khai đồng bộ tại những nơi chưa đủ điều kiện đo lường.

Hà Nội có thể tiến tới biểu giá hai phần: khoản cơ bản cho hạ tầng, dịch vụ chung và khoản biến đổi theo lượng rác còn lại. Lượng rác có thể đo bằng túi tiêu chuẩn, dung tích thùng, tần suất thu gom hoặc cân khối lượng. Rác tái chế được phân loại đúng nên chịu chi phí rất thấp hoặc bằng không; rác thực phẩm cần cơ chế riêng. Khi hộ giảm lượng rác còn lại, hóa đơn phải giảm một cách dễ nhận thấy. Công cụ đo và thu phí cần thích ứng với chung cư, khu phố mật độ cao và khu vực ven đô, thay vì áp dụng một mô hình duy nhất.

3. Hàm ý chính sách cho Hà Nội

Từ bằng chứng khoa học và khung pháp lý hiện hành, có thể rút ra năm hàm ý chính sách cho Hà Nội. Thứ nhất, tăng giá phải đi cùng chất lượng dịch vụ có thể đo lường. Mỗi phường, xã nên công bố KPI về thu gom đúng giờ, độ sạch điểm tập kết, thời gian xử lý phản ánh, tỷ lệ rác phân loại được thu riêng và tỷ lệ bị trộn lại. Các nấc giá tiếp theo có thể gắn với những KPI cốt lõi, biến phí rác thành một “hợp đồng dịch vụ môi trường” thay vì nghĩa vụ một chiều.

Thứ hai, bảo toàn chuỗi phân loại từ hộ đến nơi xử lý. Nếu rác đã tách tại nguồn lại bị trộn trên xe hoặc tại điểm trung chuyển, niềm tin của người dân sẽ nhanh chóng giảm. Túi/thùng chứa, lịch thu gom, phương tiện, điểm trung chuyển và tuyến xử lý phải đồng bộ. Thí điểm tại Hội An từng giúp giảm khoảng 30% rác chôn lấp, nhưng không duy trì được khi rác phân loại bị trộn lại [10]. Nguyên tắc cần rõ: “phân loại một lần, giữ riêng đến đúng nơi xử lý”.

Thứ ba, bảo đảm công bằng. Thu nhập có quan hệ dương với WTP [8], nên cùng một mức phí có thể tạo gánh nặng khác nhau giữa các hộ. Thành phố có thể hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo và nhóm dễ tổn thương bằng dịch vụ cơ bản hoặc trợ giá có mục tiêu, nhưng vẫn duy trì tín hiệu giá đối với lượng rác vượt ngưỡng. Có thể sử dụng trợ giá chéo trong biểu giá hai phần. Công bằng không phải là xóa giá, mà là tránh gánh nặng bất cân xứng.

Thứ tư, thí điểm trước khi nhân rộng. Nên chọn chung cư, khu phố mật độ cao và khu vực ven đô để thử nghiệm cơ chế phí hai phần/PAYT trong 6-12 tháng, theo dõi lượng rác hỗn hợp, tỷ lệ phân loại đúng, chi phí, tình trạng đổ trộm, mức hài lòng và gánh nặng chi trả. Nếu có nhóm đối chứng, Thành phố sẽ nhận diện tốt hơn tác động thực sự của cơ chế giá.

Thứ năm, công khai dòng tiền và kết nối với kinh tế tuần hoàn. Người dân cần biết phần thu tăng thêm được sử dụng như thế nào cho thu gom riêng, tái chế, xử lý hữu cơ và phần rác còn lại. Vật liệu tái chế nên gắn với trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất và thị trường tái chế; đốt rác phát điện nên ưu tiên phần khó tái chế, tránh cạnh tranh với tái sử dụng, tái chế và xử lý hữu cơ.

Phí rác không chỉ là chuyện tăng giá: Từ bằng chứng về sẵn lòng chi trả đến cơ chế quản lý mới cho Hà Nội - Ảnh 2

Năm giải pháp trên cùng theo một logic: (1) giúp người dân hiểu vấn đề; (2) làm cho việc phân loại thuận tiện; (3) làm cho lợi ích của dịch vụ tốt hơn trở nên hữu hình; và (4) sau đó mới huy động mức đóng góp cao hơn. Đây là cách chuyển “văn hóa môi trường” từ khẩu hiệu thành kiến trúc chính sách có thể đo lường.

4. Từ thu phí sang đồng quản trị môi trường

Hà Nội cần thêm nguồn lực cho quản lý rác, nhưng cải cách tài chính chỉ bền vững khi đi cùng cải thiện chất lượng dịch vụ và thay đổi hành vi. Bằng chứng từ 487 hộ cho thấy phần lớn người dân sẵn lòng đóng góp khi nhận thức về ô nhiễm, hành vi phân loại, nhu cầu cải thiện và năng lực tài chính cùng hiện diện. Mục tiêu vì vậy không chỉ là “thu đúng, thu đủ”, mà còn phải tạo động lực giảm rác và nâng cao chất lượng dịch vụ. Một cơ chế phù hợp cần bảo đảm phí phản ánh lượng rác còn lại; dịch vụ có KPI; chuỗi phân loại được bảo toàn; nhóm dễ tổn thương được bảo vệ; dòng tiền minh bạch; và chính sách được thí điểm, đánh giá trước khi mở rộng. Khi người dân thấy rõ mối liên hệ giữa số tiền họ trả, lượng rác họ giảm và chất lượng môi trường nhận được, phí rác mới thực sự trở thành công cụ kinh tế môi trường. Khi đó, người dân không chỉ là người trả phí mà còn trở thành đối tác của Thành phố trong quản trị chất thải và kinh tế tuần hoàn.

TS.Khúc Văn Quý

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài liệu tham khảo

[1]      Võ Hải (2025). Hà Nội dự kiến tăng giá thu gom rác lên 43.000 đồng/người mỗi tháng từ năm 2026. VnExpress. https://vnexpress.net/ha-noi-du-kien-tang-gia-thu-gom-rac-toi-da-43-000-dong-nguoi-mot-thang-4928005.html

[2]      Quốc hội (2020). Luật số 72/2020/QH14 – Luật Bảo vệ môi trường.

[3]      Bộ Tài nguyên và Môi trường (2023). Công văn số 9368/BTNMT-KSONMT ngày 02/11/2023 – Hướng dẫn kỹ thuật về phân loại chất thải rắn sinh hoạt.

[4]      Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025 – Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035.

[5]      UBND Thành phố Hà Nội (2025). Quyết định số 4996/QĐ-UBND ngày 06/10/2025 – Giá cụ thể dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đối với cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2027.

[6]      UBND Thành phố Hà Nội (2025). Quyết định số 5771/QĐ-UBND ngày 22/11/2025 – Ban hành giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt áp dụng đối với chủ đầu tư, cơ sở thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội.

[7]      UBND Thành phố Hà Nội (2025). Quyết định số 87/2025/QĐ-UBND ngày 29/12/2025 – Quy định quản lý chất thải rắn sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội.

[8]      Khuc, V.Q., Doan, N.D., Nguyen, T., Nguyen, T.V., Huong, N.T., Lam, N.D., Tran, T.Q., & Nguyen, T.N. (2026). Estimating Households’ Willingness-to-Pay for Improved Waste Treatment Service in Vietnam. Sustainability, 18, 4102. https://doi.org/10.3390/su18084102

[9]      Brown, Z.S. (2024). Household waste practices: New empirical evidence and policy implications for sustainable behaviour. OECD Environment Working Papers, No. 249. OECD Publishing, Paris. https://doi.org/10.1787/9e5e512c-en

[10]    Lan Anh & Phạm Khải (2026). Gỡ nghẽn rác Đà Nẵng: [Bài 2] Không thể duy trì thu gom theo khối lượng. Nông nghiệp và Môi trường. https://nongnghiepmoitruong.vn/go-nghen-rac-da-nang-bai-2-khong-the-duy-tri-thu-gom-theo-khoi-luong-d806008.html

📌 Tuyên bố bản quyền & Nguồn tin tổng hợp:
Bài viết được tổng hợp từ nguồn Kinh tế Môi trường. iSocial.vn vận hành dưới hình thức Trang thông tin điện tử tổng hợp theo Giấy phép số 8095/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử cấp ngày 28/07/2026. Mọi nội dung trích dẫn đều tuân thủ đúng quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.
QUẢNG CÁO Liên hệ Quảng cáo iSocial Vietnam
Kinh tế Môi trường
Theo Kinh tế Môi trường
08/15/2026 11:00 (GMT +7)

Tin liên quan