Thời sự

Suy ngẫm và kỳ vọng về những tiêu chí bảo vệ môi trường trong Kết luận số 75-KL/TW

Thứ bảy, 05/09/2026 08:00
QUẢNG CÁO Liên hệ Quảng cáo iSocial Vietnam
TÓM TẮT & GÓC NHÌN ISOCIAL
Tin tức được iSocial Vietnam tổng hợp & biên tập theo Giấy phép số 8095/GP-TTĐT. Cung cấp góc nhìn trọng tâm, tổng hợp tin tức đa chiều cho độc giả.

GS. Hoàng Xuân Cơ, chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực kinh tế môi trường, đã có những phân tích và suy ngẫm sâu sắc xoay quanh Kết luận số 75-KL/TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong tình hình mới.

QUẢNG CÁO IN-READ
Vị trí Quảng cáo giữa bài viết (300x250 / Responsive) / Google AdSense In-Read Banner

Ngữ cảnh ra đời và tầm quan trọng của các văn kiện

Là người có nhiều năm giảng dạy và nghiên cứu khoa học liên quan tới lĩnh vực bảo vệ tài nguyên và môi trường (BVMT), tôi rất quan tâm tới các văn kiện của Đảng.

Tôi hiểu rõ, khi Đảng có tiếng nói, chính sách, chủ trương đúng đắn thì công cuộc BVMT sẽ được các cấp chính quyền và toàn xã hội quan tâm, tập trung giải quyết.

Suy ngẫm và kỳ vọng về những tiêu chí bảo vệ môi trường trong Kết luận số 75-KL/TW - Ảnh 1
GS Hoàng Xuân Cơ- Trưởng Ban khoa học Hội Kinh tế môi trường Việt Nam- Ủy viên Ban biên tập Tạp chí Kinh tế Môi trường.

Trong số nhiều văn bản của Đảng tôi chú trọng tới 3 văn bản có mức tập trung cao về BVMT, đó là Chỉ thị số 36/1998/CT-TW Ngày 25 tháng 6 năm 1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (sau đây gọi tắt là Chỉ thị 36); Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 24) và Kết luận số 75-KL/TW ngày 28 tháng 7 năm 2026 về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong tình hình mới (sau đây gọi tắt là Kết luận 75).

Tôi cũng đã nghiên cứu Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 15 tháng 11 năm 2004 về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và vì Nghị quyết này ra đời chỉ sau 6 năm so với Chỉ thị 36 nên chúng tôi sẽ tập trung vào Chỉ thị 36 có bổ sung một số nội dung Nghị quyết 41 khi cần thiết.

Dù cách gọi khác nhau nhưng 3 văn bản này đều là văn bản chính thống của Đảng về công tác quản lý tài nguyên, BVMT và ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH).

Chúng tôi rất tin tưởng vào quá trình soạn thảo công phu, cơ sở khoa học cũng như tính khả thi của các quyết sách nêu trong 3 văn bản này nhưng vì là văn bản của Đảng, cấp lãnh đạo cao nhất nên ngắn gọn, khúc chiết, không có nhiều minh chứng cụ thể.

Vì vậy, các cấp lãnh đạo có chuyên môn sâu về các lĩnh vực này phải có những văn bản đi kèm để giúp nhân dân, cộng đồng, các tổ chức, doanh nghiệp có thể hiểu đúng, cụ thể các nội dung, các tiêu chí, các công tác, các giải pháp, nêu trong 03 văn bản nêu trên.

Sau khi đọc, so sánh 03 văn bản này cùng những văn bản tham khảo khác tôi xin trình bày một số suy nghĩ, mong muốn của mình dưới đây.

Thứ nhất: Bối cảnh ra đời các Văn kiện của Đảng về BVMT

Ba văn kiện của Đảng ra đời trong 3 giai đoạn khác nhau. Năm 1998, năm ra đời Chỉ thị 36, có thể coi là năm nước ta đã ra khỏi được lệnh cấm vận ngặt nghèo của Trung Quốc, Mỹ và các nước thân Mỹ. Nghĩa là chúng ta có thể huy động được nhiều nguồn lực nước ngoài, cả kinh phí, khoa học công nghệ, thiết bị, vật tư, nhân lực khoa học chất lượng cao,… để phục vụ phát triển đất nước. Và, chúng ta đã có thể bắt tay, tập trung vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Sau năm 1998 là những năm quá trình tham gia tìm kiếm những nguồn lực chất lượng cao như tìm cách gia nhập WTO, ký kết các văn bản hợp tác với nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế và mở cửa đón những dự án/dòng vốn FDI đầu tư lớn vào Việt Nam.

Suy ngẫm và kỳ vọng về những tiêu chí bảo vệ môi trường trong Kết luận số 75-KL/TW - Ảnh 2
Các khu công nghiệp được xây dựng ở nhiều địa phương.

Năm 2013, năm ra đời Nghị quyết 24, là năm chúng ta đã hoàn thành được một số công trình lớn về cơ sở hạ tầng, cả hạ tầng cơ bản về giao thông, hạ tầng thương mại, hạ tầng khoa học công nghệ và đặc biệt là đời sống nhân dân đã từng bước được nâng cao.

Những năm đầu thập kỷ đầu tiên của Thế kỷ 21 là thời kỳ nơi nơi xây dựng, nhà nhà xây dựng. Nhà nước tập trung xây dựng đường giao thông, cơ sở hành chính, các khu công nghiệp (KCN) còn nhân dân thì tự xây ngôi nhà của mình.

Sau năm 2013, Việt Nam tập trung vào thay đổi cơ cấu hệ thống kinh tế với những quyết sách mạnh mẽ, đặc biệt là cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, cho phép thành lập mới và tiếp tục mở rộng, phát triển các tập đoàn, công ty có quy mô lớn với những đầu tư đồng bộ cả về nguồn nhân lực chất lượng cao, áp dụng công nghệ, kỹ thuật cao trong sản xuất, khuyến khích xuất khẩu nên GDP quốc gia có mức tăng ấn tượng, đời sống nhân dân được nâng cao, kể cả ở các vùng sâu, vùng xa, vùng trước đây còn nhiều khó khăn. Sau năm 2013 chúng ta thực sự đã thoát khỏi danh sách các nước thu nhập thấp, đứng vào hàng ngũ nước thu nhập trung bình.

Năm 2016, năm ra đời Kết luận 75, Việt Nam đã vươn lên thành quốc gia có thu nhập GDP trên 500 tỷ USD/năm đứng ở vị trí 32-33 trên toàn Thế giới.

Từ sau Đại hội Đảng lần thứ XIV, có thể coi đất nước chuyển sang thời kỳ mới, sang kỷ nguyên vươn mình như Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định. Cơ sở hạ tầng cơ bản đã được hình thành, vốn/ kinh phí có thể huy động ở mức cao, vốn con người, đội ngũ công nhân, nhà khoa học, nhân sự quản lý đã được nâng tầm với chất lượng cao hơn, đủ sức đảm nhận những hoạt động/dự án phát triển ở tầm cao mới, đủ sức sản xuất được các sản phẩm, các loại vũ khí hiện đại, giá trị gia tăng cao.

Thứ hai: Nhận diện hiện trạng, thách thức môi trường trong các văn kiện của Đảng

Những bối cảnh nêu trên sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về những đánh giá, nhận diện hiện trạng, thách thức môi trường qua các thời kỳ được nêu trong văn kiện của Đảng.

Trong Chỉ thị 36, đã ghi nhận “Hoạt động bảo vệ môi trường của nước ta đã đạt được những kết quả bước đầu, đã xuất hiện những gương người tốt, việc tốt về bảo vệ môi trường” nhưng đã chỉ ra nhiều vấn đề rất bức xúc như:

“Rừng tiếp tục bị tàn phá nặng nề, khoáng sản bị khai thác bừa bãi. Đất đai bị xói mòn và thoái hoá; đa dạng sinh học trên đất liền và dưới biển đều bị suy giảm. Nguồn nước mặt và nước ngầm đang ngày càng bị ô nhiễm và cạn kiệt, vùng biển đã bắt đầu bị ô nhiễm. Nhiều đô thị và khu công nghiệp bị ô nhiễm do nước thải, khí thải, chất thải rắn… Điều kiện vệ sinh môi trường ở nông thôn quá thấp kém, tiêu chuẩn an toàn lao động và an toàn thực phẩm bị vi phạm. Các sự cố môi trường ngày càng gia tăng”.

Quả thật giai đoạn hơn 20 năm, kể từ khi thống nhất đất nước đến năm 1998 đã có những giai đoạn rừng Tây Nguyên bị khai thác lấy gỗ đưa về xuôi với quy mô lớn. Trong những năm 1980 tôi được tham gia các đoàn nghiên cứu trong Chương trình Tây Nguyên I và II nên được chứng kiến cảnh tượng các xe tải chuyên dụng hoặc xe tải kéo rơ moóc gỗ được thiết kế riêng để vận chuyển gỗ tròn, gỗ xẻ và các vật liệu gỗ khác từ Tây Nguyên về Thành phố Hồ Chí Minh qua đường qua Bù Đăng, Bù Đốp mịt mù bụi đỏ.

Chiếc xe chúng tôi đi cùng đường về đến Thành phố Hồ Chí Minh không có khách sạn nào cho nghỉ vì có lớp bụi dày, còn mọi người xuống xe chỉ còn khu vực mũi, miệng, mắt có khăn ướt che thì đỡ còn khắp người đều phủ bụi đỏ. Mỗi xe loại này có thể chở tới 6 khúc gỗ tròn dài và hãy hình dung nhiều chiếc vận chuyển liên tục thì mức độ phá rừng sẽ lớn đến đâu.

Tôi còn nhớ một lần tham gia hội thảo khoa học ở Canada, khi thảo luận về nguyên nhân phá rừng, biết có đoàn Việt Nam nên họ hỏi ý kiến, tôi trả lời là do công nghệ cao (high technology) làm mọi người ngạc nhiên và yêu cầu nói rõ hơn. Tôi giải thích đại ý là, nếu dùng công nghệ thấp, dùng búa rìu chặt cây, dùng trâu, voi kéo gỗ thì tốc độ phá rừng rất chậm nhưng dùng cưa máy, tời kéo và xe chuyên dụng chở gỗ thì rừng bị phá rất nhanh.

Mọi người suy nghĩ, thảo luận khá lâu rồi đưa ra kết luận: nguyên nhân phá rừng không phải là công nghệ cao mà là dùng công nghệ cao không đúng. Một nguyên nhân khác dẫn đến rừng Tây Nguyên bị phá là chuyển đất rừng thành đất sản xuất, trồng các cây công nghiệp dài ngày như cà phê, hồ tiêu với diện tích vượt xa đề nghị của các nhà khoa học trong các báo cáo tổng kết nghiên cứu thực địa.

Tôi chỉ có thể đưa ra một lát cắt cụ thể là nạn khai thác rừng ồ ạt (không dám nói là phá rừng), còn nhiều vấn đề môi trường khác đi kèm đã được trình bày trong các ấn phẩm khoa học, không biết chúng ta còn lưu giữ được không?.

Trong Nghị quyết 24, Bộ Chính trị đã nhận định:  

“Thời gian qua, công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã được quan tâm, có bước chuyển biến và đạt được một số kết quả bước đầu quan trọng.

Tuy nhiên, việc ứng phó với biến đổi khí hậu còn bị động, lúng túng; thiên tai ngày càng bất thường, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản; tài nguyên chưa được quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả và bền vững, một số loại tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn tới suy thoái, cạn kiệt; ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục gia tăng, có nơi nghiêm trọng; việc khắc phục hậu quả về môi trường do chiến tranh để lại còn chậm; đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế – xã hội, sức khoẻ và đời sống nhân dân”.

Có thể xem thời gian trong đánh giá nêu trên là giai đoạn từ 1999 đến 2012. Đây là giai đoạn diễn ra nhiều hoạt động phát triển nhanh và mạnh, điển hình là hoạt động xây dựng, cả xây dựng công trình giao thông, xây dựng các khu đô thị và xây dựng nhà ở của cư dân.

Ai sống ở Hà Nội trong giai đoạn này đều chứng kiến nhiều bãi chứa vật liệu xây dựng tự phát với nhiều loại rất dễ bay vào không khí như cát, xi măng cùng hoạt động của những xe chở chúng mà không được che chắn kỹ. Kỹ thuật xây dựng lúc đó còn thô sơ, bê tông vẫn trộn ngay chân công trình nên phải vận chuyển vật liệu từ xa tới, bụi phát sinh lớn đôi khi mù mịt bao phủ cả một khu vực.

Những năm 2000 chúng tôi có hai đề tài nghiên cứu chất lượng không khí khu vực Hà Nội và một số tỉnh xung quanh, một đề tài do Sida Thụy Điển tài trợ và một do Hà Nội tài trợ.

Với đề tài hợp tác quốc tế, do kinh phí tài trợ lớn nên đã lấy được nhiều mẫu đo nồng độ bụi, cả bụi mịn (MM2,5) bụi thô (PM2,5-10) và PM10. Một số mẫu đã được đưa phân tích để biết các thành phần vật chất, các ion, PAHs,… có trong chúng. Kết quả cho thấy Hà Nội và một số vùng xung quanh đã bị ô nhiễm bụi ở quy mô khá rộng và trong bụi có chứa nhiều chất độc.

Một số nhà máy, công ty quốc tế bắt đầu hoạt động mãnh mẽ trong giai đoạn này và đã thải nhiều loại chất thải độc hại ra môi trường.

Điển hình là vụ việc/sự cố xả dịch thải lỏng của Công ty Vedan Đài Loan không những đã trốn phí bảo vệ môi trường hàng chục tỷ đồng mà còn là hành động âm thầm giết chết sông Thị Vải suốt 14 năm qua (tính đến năm 2008- năm vụ việc được phát hiện). Kết quả quan trắc qua các năm cho thấy mức độ ô nhiễm nước sông Thị Vải ngày một nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm do các chất hữu cơ. Đoạn sông bị ô nhiễm nặng nhất kéo dài 10km từ xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai (cũ) đến xã Mỹ Xuân, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (cũ) với nồng độ DO nhỏ hơn hoặc bằng 0,5 mg/lít, thậm chí có đoạn DO rất nhỏ không bảo đảm sự phát triển bình thường của thủy sinh vật.

Hai sự kiện trên chỉ là những vấn đề môi trường điển hình được nghiên cứu, phát hiện, xử lý trong giai đoạn này và được trình bày lại như minh chứng cho nhận định trong Nghị quyết 24.

Trong Kết luận 75, 2026, đã nêu những thành tựu mà công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã đạt được, tập trung vào:

“Chính sách, pháp luật tiếp tục được hoàn thiện; tổ chức bộ máy được sắp xếp, kiện toàn tinh gọn hơn. Ứng phó với biến đổi khí hậu dần chuyển từ bị động sang chủ động.

Công tác quy hoạch, quản lý, khai thác tài nguyên từng bước hiệu quả, bền vững hơn. Bảo vệ môi trường dần trở thành nội dung trọng tâm trong chính sách phát triển.

Một số vấn đề bức xúc về môi trường được quan tâm xử lý; quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học tiếp tục được đẩy mạnh; nhiều mô hình chuyển đổi theo hướng xanh, tuần hoàn được triển khai; đã hình thành thị trường tín chỉ cácbon; hợp tác và hội nhập quốc tế có nhiều điểm sáng”.

Bên cạnh thành tựu thu được, Kết luận 75 cũng chỉ ra: “Vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu tiếp tục là thách thức lớn. Ô nhiễm môi trường còn diễn biến phức tạp; chất lượng môi trường không khí tại các đô thị lớn, nhất là ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chậm được cải thiện; tình trạng ô nhiễm tại các cụm công nghiệp, làng nghề, khu vực khai thác, chế biến khoáng sản và một số lưu vực sông, vùng ven biển chưa được kiểm soát hiệu quả.

Suy thoái và thu hẹp hệ sinh thái, suy giảm đa dạng sinh học vẫn còn tiếp diễn. Công tác quản lý môi trường còn nhiều hạn chế; hệ thống dữ liệu môi trường còn phân tán, thiếu đồng bộ; một số vụ việc vi phạm pháp luật về môi trường gây bức xúc trong dư luận.

Công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai có lúc, có nơi chưa đáp ứng yêu cầu; xử lý ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn còn bị động, thiếu giải pháp căn cơ; kiểm kê, giảm phát thải khí nhà kính chưa được triển khai thống nhất, đồng bộ”.

Đây là đánh giá, tổng kết rất cô đọng nên phải tham khảo thêm nhiều tài liệu khác của nhiều cơ quan chuyên ngành mới hiểu thấu đáo những hạn chế, thách thức về môi trường đã và đang đặt ra.

Xin trích dẫn một số nhận định trong Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2024, môi trường đô thị và các khu công nghiệp Việt Nam – Thực trạng và giải pháp làm minh chứng co đánh giá nêu trên.

Về chất lượng không khí, báo cáo này nhận định: “Kết quả theo dõi diễn biến chất lượng môi trường không khí những năm gần đây cho thấy các đô thị lớn đang phải đối diện với tình trạng ô nhiễm môi trường không khí ngày càng gia tăng và có diễn biến phức tạp. Thời gian ô nhiễm kéo dài hơn cả về số giờ và số ngày ô nhiễm”.

Cụ thể: “tại các trạm ở thành phố Hà Nội, giá trị thông số bụi PM2,5 trung bình năm giai đoạn 2020 – 2024 dao động trong khoảng 26,0 – 52,0 μg/Nm3, vượt từ 1,1 đến 2,1 lần, trạm tại Thái Nguyên dao động trong khoảng 37,5 – 49,1 μg/Nm3, vượt từ 1,5 đến 2,0 lần”.

Trong năm 2024, tại trạm 556 Nguyễn Văn Cừ (thành phố Hà Nội), có đến 33,04% trong tổng số ngày hoạt động với chỉ số VN_AQI năm 2024 vượt giá trị 100, nghĩa là chất lượng không khí ở mức kém và kém hơn; tần suất này tại trạm Hùng Vương (thành phố Thái Nguyên) là 36,05%, tại trạm Phủ Lý (tỉnh Hà Nam) là 23,56%. Hình 1 dưới đây cho thấy những ngày có nồng độ bụi PM2,5 trung bình vượt giới hạn cho phép của QCVN 05:2023/BTNMT (có thể coi là ô nhiễm), cũng là ngày có VN_AQI chuyển sang mức độ kém hoặc xấu hơn ở trạm 556 Nguyễn Văn Cừ.

Từ hình này cho thấy, không chỉ số ngày ô nhiễm chiếm tỷ lệ cao mà số ngày liên tục có mức độ chất lượng không khí theo chỉ số VN_AQI lớn hơn 100 (kém và xấu hơn) ở mức lớn, nhiều lần vượt qua mức 10 ngày liên tục, thậm chí vào tháng 12/2024, có một đợt ô nhiễm kéo dài tới 17 ngày liên tục từ 15/12 đến 31/12/2024 và có thể còn kéo dài cả sang tháng 01/2025.

Suy ngẫm và kỳ vọng về những tiêu chí bảo vệ môi trường trong Kết luận số 75-KL/TW - Ảnh 3

Hình1. Diễn biến giá trị chỉ số VN_AQI năm 2024 tại trạm quan trắc tự động, liên tục 556 Nguyễn Văn Cừ, thành phố Hà Nội.Nguồn: Tổng hợp số liệu từ các trạm quan trắc tự động, liên tục [1].

Cũng trong giai đoạn giữa hai văn kiện năm 2013 và 2026, một sự cố môi trường lớn đã xảy ra, đó là sự cố môi trường do Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa, Hà Tĩnh gây ra.

Năm nay (2026) đánh dấu kỷ niệm 10 năm xảy ra thảm họa môi trường này. Hàng trăm tấn cá chết đã dạt vào bờ biển kể từ ngày 6 tháng 4 năm 2016, gây ảnh hưởng sức khỏe cho hàng ngàn người và làm tê liệt các ngành đánh bắt thủy hải sản và du lịch một số tỉnh ven biển miền Trung. Sau khi vấp phải làn sóng phản đối mạnh mẽ từ dư luận, công ty này đã thừa nhận trách nhiệm và đồng ý bồi thường 500 triệu USD.

Hãy nhìn vào thú nhận và cam kết của Công ty Formosa sẽ biết được quy mô. mức thiệt hại do sự cố này gây ra: (1) công khai xin lỗi Chính phủ và nhân dân Việt Nam vì để xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng; (2) thực hiện việc bồi thường thiệt hại kinh tế cho người dân và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp; bồi thường xử lý ô nhiễm và phục hồi môi trường biển tại 04 tỉnh miền Trung của Việt Nam với tổng số tiền tương đương trên 11.500 tỷ đồng (500 triệu USD); (3) khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế của hệ thống xử lý chất thải, nước thải, hoàn thiện công nghệ sản xuất, đảm bảo xử lý triệt để các chất thải độc hại trước khi thải ra môi trường theo yêu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước của Trung ương và tỉnh Hà Tĩnh để không tái diễn sự cố môi trường như đã xảy ra; (4) phối hợp với các Bộ, ngành của Việt Nam và các tỉnh miền Trung xây dựng các giải pháp đồng bộ để kiểm soát môi trường biển miền Trung  bảo đảm phòng, chống ô nhiễm, không để xảy ra sự cố môi trường tương tự để tạo niềm tin với người dân Việt Nam và quốc tế; (5) thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết nói trên, không để tái diễn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và tài nguyên nước; nếu vi phạm thì sẽ chịu các chế tài theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Sự cố này đã gây không ít thiệt hại vật chất, thiệt hại hệ sinh thái biển và cả hệ quả xã hội, gây sự phẫn nộ rất lớn cho nhân dân, gây hoài nghi về khả năng quản lý của nhà nước đối với các dự án hợp tác quốc tế có khả năng gây tác động môi trường ở mức to lớn nếu không được kiểm soát tốt.

Như vậy, những đánh giá, nhận định đưa ra trong 3 văn kiện của Đảng đều khái quát được những vấn đề môi trường đã xảy ra trước đó, đều chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những vấn đề môi trường không mong muốn để định hướng công tác quản lý, kiểm soát và đề xuất giải pháp, hoạt động BVMT; kiểm soát và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên; kiểm soát, cố gắng giảm phát thải KNK trong thời gian tiếp nối.

Thứ ba: Mục tiêu/tiêu chí đặt ra trong các văn kiện của Đảng

Các văn kiên được nêu trong phần trên là văn kiện được ban hành bởi tổ chức cao nhất của Đảng – Bộ Chính trị- và được ký bởi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hoặc Thường trực Ban bí thư nên luôn là “mệnh lệnh” để các tổ chức Đảng các cấp, đặc biệt là tổ chức Đảng của các cơ quan lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ), của các Bộ, Ngành, Địa phương quán triệt, lập kế hoạch và thực thi. Vì vậy, các mục tiêu đưa ra cũng rất ngắn nhưng đầy đủ, kết tinh được mọi nội dung được đề cập, cụ thể là các nội dung liên quan đến BVMT.

Suy ngẫm và kỳ vọng về những tiêu chí bảo vệ môi trường trong Kết luận số 75-KL/TW - Ảnh 4
Cơ quan chức năng lấy mẫu nước tại 1 nhà máy ở Hưng Yên.

Nếu như Chỉ thị 36 tập trung vào mục tiêu: “Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường của những nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế – xã hội bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân” thì đến Nghị định 24, mục tiêu tổng quát đã cụ thể hóa cho 2 giai đoạn: đến năm 2020 và đến năm 2050. Nghị quyết 24 nhấn mạnh hơn về “chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, giảm phát thải khí nhà kính; có bước chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững, kiềm chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học nhằm bảo đảm chất lượng môi trường sống, duy trì cân bằng sinh thái, hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường” trong giai đoạn đến năm 2020.

Đặc biệt, đến năm 2050 phải “khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững tài nguyên; bảo đảm chất lượng môi trường sống và cân bằng sinh thái, phấn đấu đạt các chỉ tiêu về môi trường tương đương với mức hiện nay của các nước công nghiệp phát triển trong khu vực”.

Quả thật, nếu không đủ kiến thức, không đủ tài liệu thì mọi người sẽ rất khó tìm lại “các mục tiêu về bảo vệ môi trường mà Đại hội VIII của Đảng đã đề ra” được đề cập trong Chỉ thị 36 và đạt các chỉ tiêu về môi trường tương đương với mức hiện nay của các nước công nghiệp phát triển trong khu vực như trong Nghị quyết 24 yêu cầu. Chúng tôi rất mong có được sự vào cuộc, nghiên cứu chỉ ra cụ thể hơn để mọi người có thể tiếp cận mục tiêu cụ thể hơn.

Có lẽ Kết luận 75 cho ta cái nhìn rõ hơn, cụ thể hơn về mục tiêu BVMT. Cụ thể, đến năm 2030: “Năng lực quản trị môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai được nâng cao, bảo vệ tốt hơn tính mạng, sức khoẻ, tài sản, sinh kế của Nhân dân. Các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được tập trung xử lý, phục hồi; chất lượng môi trường sống của Nhân dân được cải thiện; suy giảm đa dạng sinh học được ngăn chặn, hướng tới cân bằng sinh thái. Các nguồn thải lớn được kiểm soát chặt chẽ, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, cácbon thấp gắn với đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm an ninh môi trường và sự phát triển bền vững đất nước”.

Và tầm nhìn đến năm 2045: “Việt Nam có môi trường sống trong lành, hài hoà với thiên nhiên, phát triển bền vững; hệ thống quản trị môi trường hiện đại; thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, cácbon thấp trở thành phương thức phát triển quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm, vị thế và uy tín cao trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu”.

Đặc biệt, Kết luận 75 còn đưa ra các tiêu chí định lượng cần đạt được trong giai đoạn 2026-2030 trong phụ lục (bảng 1).

Bảng 1. Các chỉ tiêu môi trường cần đạt trong giai đoạn 2026-2030 (phụ lục của Kết luận 75)

TT

Chỉ tiêu

Mục tiêu

1.

Tỉ lệ chi sự nghiệp bảo vệ môi trường trong tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm

Tối thiểu 2%

2.

Tỉ lệ các nguồn nước thải, khí thải lớn được quan trắc tự động, liên tục

100%

3.

Tỉ lệ số ngày trong năm có chỉ số chất lượng môi trường không khí (AQI) ở mức tốt và trung bình ở các đô thị đặc biệt

80%

4.

Tỉ lệ cụm công nghiệp có nước thải được xử lý đạt quy chuẩn môi trường

100%

5.

Tỉ lệ nước thải sinh hoạt đô thị tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại I được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn môi trường

70%

6.

Tỉ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý

95%

7.

Tỉ lệ chất thải rắn sinh hoạt ở khu vực nông thôn được thu gom, xử lý

85%

8.

Tỉ lệ chất thải rắn sinh hoạt được xử lý bằng phương pháp chôn lấp trực tiếp so với lượng chất thải được thu gom

< 30%

9.

Tỉ lệ che phủ rừng

42%

10.

Tỉ lệ diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển so với diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia

6%

11.

Tỉ lệ số hộ dân thuộc khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai có nhà ở an toàn

70%

12.

Tỉ lệ các hộ dân sinh sống ở nơi có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất được di dời đến nơi an toàn

80%

13.

Tỉ trọng kinh tế xanh trên GDP

10%

14.

Tỉ lệ khu công nghiệp sinh thái trên cả nước

10%

15.

Tỉ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp

26,1%

16.

Giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP/năm

1 -1,5%

17.

Số công trình xây dựng xanh được chứng nhận trên cả nước

1.200

18.

Giảm phát thải khí nhà kính của quốc gia so với kịch bản phát triển thông thường

9%

Nhìn các chỉ tiêu trên bảng 1 chúng ta có ngay cảm giác rất vui vì đến năm 2030 nhiều mong muốn hiện nay đặt ra sẽ trở thành hiện thực. Rõ nét nhất là kinh phí dành cho sự nghiệp bảo vệ môi trường trong tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm không dưới 2%.

Đây là nguồn kinh phí rất lớn, để hình dung xin trích dẫn một vài con số từ Dự toán ngân sách nhà nước năm 2025 theo Quyết định số 2894/QĐ-BTC ngày 09 tháng 12 năm 2024.

Theo đó, dự toán tổng chi ngân sách nhà nước (NSNN) là 2.548.958 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương (NSTW) là 1.206.202 tỷ đồng và ngân sách địa phương (NSĐP) là 1.342.756 tỷ đồng. Như vậy, nếu chi cho sự nghiệp bảo vệ môi trường năm 2025 là 2% thì đã chi 50.979,16 tỷ đồng, một con số khá lớn.

Tuy nhiên so với tiền thuế BVMT thu được năm 2025 (Niên giám thống kê 2025) là 42.486 tỷ đồng (chưa kể tiền thu từ các loại phí môi trường) thì chênh lệch thu-chi không lớn lắm.

Như vậy, đã thu xếp được kinh phí cho BVMT ở mức khá cao nhưng chi vào những khoản gì thì chưa thật rõ. Có lẽ chính vì vậy mà mức chi BVMT những năm qua còn ở mức thấp, thậm chí trong niên giám thống kê còn không có mục chi riêng.

Rất may, chúng tôi tải được Quyết định số 2894/QĐ-BTC ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Bộ Tài chính, trong đó có Biểu số 17/CK-NSNN về Dự toán chi ngân sách trung ương theo các lĩnh vực năm 2025. Trong biểu này,  chi bảo vệ môi trường nằm trong mục IV-chi thường xuyên với mức chi là 1.834 tỷ đồng trên tổng chi ngân sách trung ương:  1.523.264, chỉ chiếm 0,12% [2].

Vì vậy, mong muốn của chúng tôi là phải minh bạch các khoản chi BVMT để giải quyết được những điểm nghẽn trong giải ngân khoản ngân sách này. Trước đây, có người cho rằng, do kinh phí hạn hẹp nên một số vấn đề như kiểm kê chất thải (cả khí thải, nước thải, chất thải rắn), xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải để liên tục được cập nhật chỉ ra được những nguồn thải lớn có khả năng gây tác động lớn đến môi trường chưa làm được.

Một việc cấp bách khác là hệ thống quan trắc môi trường, đáng chú ý là hệ thống các điểm đo chất lượng không khí, chất lượng nước cố định, lên tục, tự động, mức chính xác cao chưa đáp ứng để xây dựng cơ sở dữ liệu chất lượng không khí, chất lượng nước mặt cũng như đánh giá đúng mức chất lượng môi trường và xem xét xu hướng theo thời gian và phân bố không gian.

Chúng tôi mong muốn hai vấn đề này phải được ưu tiên dành kinh phí để hoàn thành trong giai đoạn 2026-2030.

Đối với tiêu chí về: Tỉ lệ số ngày trong năm có chỉ số chất lượng môi trường không khí (AQI) ở mức tốt và trung bình ở các đô thị đặc biệt chúng tôi thấy cần nêu chính xác hơn vì AQI có nhiều cách tính và Việt Nam đã có văn bản nêu cách tính VN_AQI thì nên dùng ký hiệu này và mức 80% phải nêu rõ là 80% trở lên (hoặc >80%).

Mặt khác, hiện đang có QCVN 05:2023/BTNMT quy định về chất lượng không khí nên nếu sử dụng các thông số trong quy chuẩn này thì đúng hơn.

Về tiêu chí Tỉ lệ khu công nghiệp sinh thái trên cả nước cần nói rõ KCN sinh thái theo tiêu chí nào, ai được quyền công nhận vì tiêu chí định ra hiện nay rất khó có minh chứng, khó thẩm định và quy trình xin công nhận còn khá phức tạp. Chúng tôi mong muốn cơ quan có trách nhiệm làm rõ thêm vấn đề này.

Về tiêu chí Giảm phát thải khí nhà kính của quốc gia so với kịch bản phát triển thông thường 9%, chúng tôi cho rằng, cần kiểm tra lại vì nhiều văn bản công khai hiện nay đề ra con số khác xa  mức giảm này.

Trong công văn số 1454/BTNMT-BĐKH  ngày 09 tháng 3 năm 2023 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về việc triển khai thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật năm 2022 gửi xác Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;  Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương đã nêu:

“1. Về giảm phát thải khí nhà kính

Đóng góp giảm phát thải không điều kiện được thực hiện bằng các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, vốn vay, đầu tư của doanh nghiệp trong và ngoài nước, đóng góp và đầu tư của người dân đến năm 2030 giảm 15,8% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với Kịch bản phát triển thông thường (BAU), tương đương 146,3 triệu tấn CO2tđ.

Đóng góp giảm phát thải có điều kiện khi được quốc tế hỗ trợ thêm tài chính thích hợp và đầy đủ thông qua các khoản viện trợ không hoàn lại, phần ưu đãi trong vốn vay, các nguồn tài chính, công nghệ và tăng cường năng lực theo các cơ chế hợp tác quốc tế song phương và đa phương, đến năm 2030 giảm 43,5% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với BAU, tương đương với 403,7 triệu tấn CO2tđ”.

Không biết hai con số về mức giảm phát thải KNK năm 2030 của hai văn bản này có tương thích không, cần giải thích. Mức giảm 9% trong Kết luận 75 là quá thấp? nên tính khả thi cao còn mức giảm 15.8% liệu có đạt được không cần có nghiên cứu, trả lời sớm.

Nếu tham khảo Quyết định số: 896/QĐ-TTg ngày 26 tháng 7 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ thì trong mục 2. về Mục tiêu cụ thể có:

“b) Giảm phát thải khí nhà kính

Nỗ lực đạt mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, tích cực đóng góp có trách nhiệm cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất; nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

– Đến năm 2030, bảo đảm tổng lượng phát thải khí nhà kính quốc gia giảm 43,5% so với kịch bản phát triển thông thường (BAU)”.

Con số giảm 43,5% tổng lượng phát thải khí nhà kính quốc gia so với kịch bản phát triển thông thường (BAU) trùng với giá trị nêu trong công văn số 1454/BTNMT-BĐKH nhưng với điều kiện  được quốc tế hỗ trợ thêm tài chính thích hợp và đầy đủ thông qua các khoản viện trợ không hoàn lại, phần ưu đãi trong vốn vay, các nguồn tài chính, công nghệ và tăng cường năng lực theo các cơ chế hợp tác quốc tế song phương và đa phương.

Do không có thời gian và chuyên sâu nên chúng tôi chưa có ý kiến về các tiêu chí khác. Rất mong các nhà khoa học, các chuyên gia cho thêm ý kiến để hoàn thiện các tiêu chí trên bảng 1 góp phần làm tăng hơn nữa tính khả thi của chúng.

Thay lời kết

Những người ở thế hệ U80 như chúng tôi đều mong muốn được chứng kiến thành tựu của đất nước vào năm 2030 – cột mốc 100 năm thành lập Đảng, với chất lượng môi trường sống thực sự được cải thiện, tài nguyên được quản trị và khai thác bền vững.

Là một nhà nghiên cứu, tôi cảm nhận được trách nhiệm và áp lực lớn đặt ra cho các cấp ủy trong khâu “Tổ chức thực hiện” của Kết luận 75. Ban Cán sự đảng Chính phủ và các Bộ ngành, đặc biệt là ngành Tài nguyên và Môi trường, sẽ phải có những quyết sách đột phá, quyết liệt chỉ đạo toàn ngành thì mới biến các tiêu chí trên bảng thành hiện thực. Nhân dân luôn sẵn sàng đồng hành, theo dõi và mong chờ được thụ hưởng những thành quả phát triển xanh, bền vững của đất nước.

GS. Hoàng Xuân Cơ

Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam

Tài liệu tham khảo

[1]. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2024, môi trường đô thị và các khu công nghiệp Việt Nam – Thực trạng và giải pháp.

[2]. Bộ Tài chính, Quyết định số 2894/QĐ-BTC ngày 09 tháng 12 năm 2024.

https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2025/01/2894-btc.signed.pdf

📌 Tuyên bố bản quyền & Nguồn tin tổng hợp:
Bài viết được tổng hợp từ nguồn Kinh tế Môi trường. iSocial.vn vận hành dưới hình thức Trang thông tin điện tử tổng hợp theo Giấy phép số 8095/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử cấp ngày 28/07/2026. Mọi nội dung trích dẫn đều tuân thủ đúng quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.
QUẢNG CÁO Liên hệ Quảng cáo iSocial Vietnam
Kinh tế Môi trường
Theo Kinh tế Môi trường
09/05/2026 08:00 (GMT +7)

Tin liên quan