Hà Nội: Gỡ “điểm nghẽn” môi trường từ bài toán chi phí và hiệu quả đầu tư
Dưới góc nhìn kinh tế môi trường, hiệu quả xử lý phải được đo bằng mức giảm ô nhiễm, chi phí xã hội được tiết kiệm và giá trị tài nguyên được thu hồi.
Sáng 22/10, Thường trực HĐND thành phố Hà Nội tổ chức phiên chất vấn về lĩnh vực môi trường, tập trung vào năm nhóm vấn đề: quy hoạch và nguồn lực bảo vệ môi trường; chất thải rắn sinh hoạt; chất thải rắn xây dựng; chất thải rắn y tế; chất lượng không khí. Phiên chất vấn hướng tới làm rõ kết quả đạt được, những tồn tại, nguyên nhân, trách nhiệm và thời hạn khắc phục.

Từ góc nhìn kinh tế môi trường, những nội dung được đưa ra chất vấn còn đặt ra câu hỏi: Thành phố đang phải trả bao nhiêu cho ô nhiễm, ai thực sự gánh khoản chi phí đó và nguồn lực đầu tư đã tạo ra hiệu quả tương xứng hay chưa?
Nhận diện đầy đủ chi phí ô nhiễm, nâng hiệu quả đầu tư
Một điểm tập kết rác gây mùi, một tuyến đường thường xuyên có phế thải xây dựng hay một nguồn phát tán bụi đều có thể tạo ra những chi phí vượt ra ngoài khoản tiền thu gom, vận chuyển và xử lý. Người dân phải dành thêm thời gian vệ sinh nhà cửa, chịu bất tiện trong sinh hoạt; hoạt động kinh doanh có thể bị ảnh hưởng; ngân sách phải bố trí nguồn lực kiểm tra, khắc phục.
Đó là những chi phí xã hội cần được nhận diện khi đánh giá hiệu quả quản lý môi trường. Nếu chỉ tính số tiền thanh toán cho đơn vị dịch vụ, một phương án có vẻ tiết kiệm vẫn có thể khiến cộng đồng phải trả giá cao hơn.
Chẳng hạn, bố trí một điểm trung chuyển thuận tiện cho xe vận chuyển nhưng thiếu biện pháp kiểm soát mùi và nước rỉ rác có thể giảm chi phí vận hành trước mắt. Tuy nhiên, phần chi phí tiết kiệm ấy có nguy cơ chuyển thành gánh nặng đối với các hộ dân xung quanh. Vì vậy, lựa chọn vị trí, công nghệ và phương thức vận hành cần được xem xét trên tổng chi phí, bao gồm cả tác động đến cộng đồng.
Cách tiếp cận này cũng cần áp dụng khi phân bổ ngân sách. Một khu vực phát sinh nhiều chất thải, có mật độ dân cư cao hoặc điều kiện thu gom phức tạp sẽ có nhu cầu nguồn lực khác với địa bàn còn lại. Phân bổ kinh phí cần bám sát khối lượng công việc, đặc điểm địa bàn và yêu cầu chất lượng dịch vụ.
Phân cấp quản lý chỉ phát huy hiệu quả khi cơ sở có đủ nhân lực chuyên môn, dữ liệu và khả năng tổ chức thực hiện. Nếu trách nhiệm được giao xuống nhưng nguồn lực thiếu tương ứng, nguy cơ chậm xử lý sẽ kéo dài, làm tăng chi phí khắc phục về sau.
Theo báo cáo giám sát của Ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường HĐND thành phố, tỷ lệ xử lý rác sinh hoạt bằng công nghệ đốt phát điện tại Hà Nội đạt 83%, trong khi chôn lấp còn 17%. Tuy nhiên, lượng tro bay tồn lưu tại hai nhà máy điện rác khoảng 100.764 tấn; sản phẩm tái chế từ tro xỉ còn khó tiêu thụ.
Những dữ liệu này gợi mở yêu cầu đánh giá hiệu quả đầu tư theo toàn bộ vòng đời chất thải. Với điện rác, bài toán tài chính cần bao quát cả tiếp nhận, vận hành, kiểm soát phát thải, xử lý chất thải thứ cấp và chi phí dài hạn. Sản lượng điện hay khối lượng rác tiếp nhận là những chỉ tiêu cần thiết, nhưng chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả môi trường.
Tro bay và tro xỉ cũng cần được phân biệt, đánh giá đặc tính và lựa chọn phương án quản lý phù hợp. Khả năng tái chế phải dựa trên mức độ an toàn, tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện sử dụng cụ thể. Chuyển chất thải thành vật liệu chỉ có ý nghĩa khi không tạo thêm rủi ro cho công trình và môi trường.
Với chất thải xây dựng, phát triển cơ sở tái chế cần đi cùng tổ chức nguồn đầu vào và thị trường đầu ra. Doanh nghiệp khó đầu tư ổn định nếu không dự báo được lượng chất thải tiếp nhận, chất lượng nguyên liệu và khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Bởi vậy, kinh tế tuần hoàn cần được hình thành từ một chuỗi điều kiện cụ thể: phân loại phù hợp, vận chuyển có kiểm soát, công nghệ đáp ứng yêu cầu và sản phẩm có nơi sử dụng. Thiếu một mắt xích, chi phí có thể dồn sang khâu khác, khiến hoạt động tái chế khó duy trì.
Gắn giá dịch vụ với chất lượng, trách nhiệm và kết quả thực hiện
Một nội dung được Đoàn giám sát kiến nghị là rà soát giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác sinh hoạt, bảo đảm bù đắp chi phí hợp lý và thu hút đầu tư. Đồng thời, cần thúc đẩy sử dụng vật liệu tái chế đáp ứng yêu cầu trong các dự án đầu tư công.
Về kinh tế, mức giá dịch vụ cần tạo điều kiện để đơn vị thực hiện duy trì nhân lực, đổi mới phương tiện và đầu tư công nghệ. Điều chỉnh giá phải gắn với minh bạch cấu phần chi phí, định mức hợp lý và cam kết chất lượng có thể kiểm chứng.

Hợp đồng dịch vụ nên xác định rõ tần suất thu gom, thời gian xử lý phản ánh, yêu cầu vệ sinh tại điểm trung chuyển và trách nhiệm khi để xảy ra tồn đọng. Thanh toán cần gắn với kết quả nghiệm thu thực tế. Khi chất lượng chưa đạt, phải có cơ chế khắc phục và ràng buộc trách nhiệm.
Đây cũng là cơ sở để hình thành môi trường cạnh tranh lành mạnh trong cung ứng dịch vụ môi trường. Doanh nghiệp đầu tư bài bản, vận hành hiệu quả và đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường cần có điều kiện phát triển ổn định. Việc lựa chọn nhà cung cấp cần xem xét đồng thời giá, năng lực thực hiện và chất lượng dịch vụ trong suốt thời gian hợp đồng.
Cùng với đó, cần thiết kế động lực để giảm phát sinh chất thải và phân loại hiệu quả. Người dân chỉ có thể duy trì thói quen phân loại khi hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý phía sau bảo đảm tương thích. Nếu rác đã phân loại lại bị trộn chung, nguồn lực xã hội dành cho phân loại sẽ bị lãng phí.
Đối với ô nhiễm không khí, tư duy kinh tế môi trường đòi hỏi xác định nguồn phát thải, đối tượng chịu tác động và chi phí của từng phương án kiểm soát. Dữ liệu đáng tin cậy sẽ giúp ưu tiên giải pháp tạo ra mức giảm ô nhiễm lớn với nguồn lực phù hợp, đồng thời bảo vệ tốt hơn các nhóm dân cư chịu ảnh hưởng trực tiếp.
Hoạt động kiểm soát bụi tại công trường, quản lý vận chuyển vật liệu hay hạn chế đốt chất thải cần được đánh giá bằng mức độ tuân thủ và kết quả cải thiện môi trường. Số cuộc kiểm tra, số trường hợp xử phạt là dữ liệu quản lý cần thiết; hiệu quả cuối cùng phải thể hiện ở việc nguồn ô nhiễm được kiểm soát và vi phạm được ngăn ngừa tái diễn.
Giá trị của phiên chất vấn vì thế cần được nối tiếp bằng kết quả thực hiện: từng tồn tại có đầu mối xử lý, nguồn lực, thời hạn và chỉ tiêu đánh giá. Người dân cần được biết điểm ô nhiễm nào sẽ được giải quyết, tiến độ đến đâu và chất lượng môi trường thay đổi thế nào.
Gỡ “điểm nghẽn” môi trường cũng chính là nâng hiệu quả sử dụng nguồn lực phát triển. Khi chi phí ô nhiễm được nhận diện đầy đủ, trách nhiệm được xác định rõ và đầu tư được đo bằng kết quả, Hà Nội sẽ có cơ sở vững chắc hơn để cải thiện môi trường sống và sức cạnh tranh của đô thị.
Xuân An