Tầm nhìn 100 năm: Lời giải đột phá cho “bài toán” rác thải và nghĩa trang Thủ đô
Đây không chỉ là bước đi chiến lược để bảo vệ môi trường, mà còn là đòn bẩy kiến tạo nền kinh tế tuần hoàn, định hình lại không gian sống văn minh cho hàng chục triệu cư dân tương lai.
Mới đây, Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố Hà Nội Dương Đức Tuấn ký ban hành Quyết định số 4891/QĐ-UBND ngày 11/9/2026 về phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch quản lý chất thải rắn và nghĩa trang Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm.
Theo Quyết định, phạm vi lập quy hoạch là toàn bộ địa giới hành chính của Thủ đô Hà Nội, khoảng 3.359,84 km2, cụ thể: phía Bắc tiếp giáp tỉnh Thái Nguyên và Phú Thọ; phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình, tỉnh Phú Thọ; phía Đông giáp tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Hưng Yên; phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Phú Thọ. Nó đánh dấu một bước ngoặt lớn trong tư duy quản trị đô thị.
Trên cơ sở Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đã được Chủ tịch UBND Thành phố phê duyệt dự báo giai đoạn đến năm 2035: khoảng 14-15 triệu người; đến năm 2045, khoảng 15-16 triệu người; đến năm 2065, khoảng 17-19 triệu người. Giai đoạn dài hạn đến năm 2085 và xa hơn, cơ bản giữ ổn định, khống chế quy mô dân số tối đa không quá 20 triệu người; đảm bảo quy chuẩn về mật độ dân số (đô thị có thể đáp ứng ngưỡng chịu tải tối đa khoảng 22-25 triệu người với dự báo phát triển gia tăng tạm trú, khách vãng lai, làm việc, học tập, giao thương, khách nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, khách du lịch).

Dưới góc nhìn kinh tế môi trường, sự gia tăng từ khoảng 9 triệu người hiện nay lên ngưỡng 25 triệu người (bao gồm vãng lai) trong 100 năm tới sẽ tạo ra một áp lực khổng lồ về khan hiếm quỹ đất, ô nhiễm môi trường và ách tắc giao thông. Việc Hà Nội xây dựng quy hoạch có tầm nhìn 100 năm chính là một nỗ lực giảm thiểu chi phí cơ hội của việc phát triển nóng để nền kinh tế Thủ đô có thể phát triển bền vững.
Quản lý chất thải rắn: Từ “xử lý cuối nguồn” đến “kinh tế tuần hoàn”
Đối với quản lý chất thải rắn, một trong những mục tiêu trọng tâm trong Quy hoạch là chuyển đổi căn bản mô hình quản lý chất thải rắn từ xử lý cuối nguồn sang kinh tế tuần hoàn, trong đó phân loại tại nguồn là nền tảng, giảm thiểu phát sinh thông qua giải pháp: tái sử dụng – tái chế – thu hồi tài nguyên; đốt và chôn lấp là giải pháp xử lý cuối cùng đối với phần chất thải không thể thu hồi.
Để tối ưu hóa chi phí và giảm ô nhiễm thứ phát, Thành phố sẽ rà soát, quy hoạch đồng bộ mạng lưới trạm trung chuyển, điểm tiếp nhận, tuyến vận chuyển và phân luồng chất thải, tối ưu bán kính phục vụ, giảm cự ly vận chuyển, giảm áp lực giao thông, hạn chế ô nhiễm thứ phát và bảo đảm vận hành ổn định hệ thống vệ sinh môi trường đô thị – nông thôn.
Mạng lưới công trình đầu mối xử lý chất thải rắn đồng bộ sẽ được xây dựng và bố trí quỹ đất theo công suất, phân bố hợp lý theo cấu trúc phát triển không gian của Thủ đô; bảo đảm xử lý 6 loại hình chất thải chính gồm: chất thải rắn sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng, phân bùn bể phốt và bùn thải đến năm 2035 và đáp ứng yêu cầu phát triển dài hạn đến năm 2045, 2065, tầm nhìn 100 năm.

Hà Nội cũng định hướng chuyển đổi công nghệ tại các công trình đầu mối xử lý chất thải rắn; công nghệ thu gom, vận chuyển theo lộ trình hiện đại hóa và kinh tế tuần hoàn, giảm dần chôn lấp, kiểm soát vai trò của đốt xử lý, tăng tỷ trọng tái chế, thu hồi vật liệu, thu hồi năng lượng, xử lý phát thải thấp; từng bước hình thành các tổ hợp công nghiệp môi trường phù hợp với Thủ đô văn minh, hiện đại, phát triển bền vững trong tầm nhìn 100 năm.
Một yêu cầu quan trọng trong quá trình lập quy hoạch là ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa hệ thống quản lý để giám sát, truy xuất toàn bộ dòng chất thải rắn từ khi phát sinh, phân loại, thu gom, vận chuyển đến tiếp nhận, xử lý và tái chế, bảo đảm quản lý xuyên suốt, minh bạch và hạn chế thất thoát, đổ thải không đúng quy định.
Có thể thấy, so với hiện tại (chi phí xử lý rác được nhà nước trợ giá, người dân chi trả mức phí khá rẻ), việc Quy hoạch nhấn mạnh vào “phân loại tại nguồn là nền tảng” phù hợp với quy định của Luật Bảo vệ Môi trường 2020, trong đó yêu cầu tính phí rác thải dựa trên khối lượng/thể tích rác thải không thể tái chế. Phân loại rác tại nguồn, do đó, chính là công cụ kinh tế để thay đổi hành vi tiêu dùng, chuyển từ việc coi rác là “đồ bỏ đi” sang việc coi rác là “tài nguyên”.
Đáng chú ý, sự chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn – bài toán tối ưu chi phí dài hạn – được Hà Nội định hướng trong việc “hình thành các tổ hợp công nghiệp môi trường”. Dù chi phí đầu tư cho công nghệ tái chế, thu hồi năng lượng (điện rác) sẽ rất cao, song với tầm nhìn 100 năm, giá trị thu hồi từ vật liệu tái chế và điện năng sinh ra từ đốt rác sẽ bù đắp lại chi phí vận hành, chưa kể đến việc Hà Nội sẽ tiết kiệm được chi phí khắc phục môi trường từ việc chôn lấp rác thải.
Trong Quy hoạch, Hà Nội còn yêu cầu lập hồ sơ quy hoạch theo cơ sở dữ liệu địa lý (GIS); xác định các giải pháp bảo vệ môi trường; xác định ưu tiên phân kỳ đầu tư theo từng giai đoạn; xác định quy mô nguồn vốn đầu tư và đề xuất các nguồn vốn; rà soát, cập nhật, xác định chương trình, dự án ưu tiên đầu tư theo tình hình thực tế về quản lý chất thải rắn và nghĩa trang.
Khi áp dụng hệ thống quản lý bằng GIS và công nghệ thông tin, chi phí giám sát sẽ giảm mạnh. Sự minh bạch này không chỉ giúp quản lý dòng rác thải mà còn minh bạch hóa dòng tiền thanh toán cho các đơn vị thu gom, xử lý, từ đó loại bỏ các bất cập, gian lận trong đấu thầu dịch vụ công ích.
Quy hoạch nghĩa trang: Hiện đại hóa, xanh hóa và tái cấu trúc
Đối với lĩnh vực nghĩa trang, Quy hoạch đặt mục tiêu hình thành hệ thống nghĩa trang, cơ sở hỏa táng, không gian lưu giữ tro cốt, nhà tang lễ đồng bộ, hiện đại, đủ năng lực phục vụ nhu cầu an táng của Thủ đô trong dài hạn. Hệ thống này phải phù hợp với quy mô dân số, cấu trúc chùm đô thị, đa cực, đa trung tâm và yêu cầu phát triển không gian mới của Hà Nội.

Giải pháp mang tính quyết liệt là tái cấu trúc hệ thống nghĩa trang hiện hữu theo hướng tập trung, kiểm soát và hài hòa với không gian đô thị – nông thôn, thông qua rà soát, phân loại, cải tạo, chỉnh trang, dừng chôn cất, đóng cửa hoặc di dời các nghĩa trang nhỏ lẻ, phân tán, xen cài trong khu dân cư hoặc không còn phù hợp với định hướng phát triển không gian mới của Thủ đô. Quá trình này sẽ từng bước di dời, đóng cửa các nghĩa trang nhỏ lẻ, phân tán trong khu vực nội đô.
Về mô hình, định hướng của Thủ đô là nghiên cứu chuyển đổi mô hình nghĩa trang theo hướng xanh, hiện đại, tiết kiệm đất và thân thiện môi trường; phát triển mô hình công viên nghĩa trang. Đồng thời, thành phố sẽ đẩy mạnh hỏa táng và lưu giữ tro cốt tập trung.
Quy hoạch cũng yêu cầu đầu tư xây dựng các cơ sở hỏa táng áp dụng công nghệ cao, không phát thải; rà soát, bổ sung hệ thống nhà tang lễ theo quy mô dân số và bán kính phục vụ; nghiên cứu bố trí nhà tang lễ gắn với cơ sở hỏa táng và nghĩa trang phù hợp với quy chuẩn môi trường và điều kiện hạ tầng kỹ thuật.
Cơ quan lập quy hoạch phải rà soát, đánh giá nhu cầu sử dụng đất nghĩa trang, cơ sở hỏa táng và nhà tang lễ theo các giai đoạn phát triển đô thị; nghiên cứu xác định vị trí, quy mô của các nghĩa trang tập trung, cơ sở hỏa táng, lưu giữ tro cốt và nhà tang lễ phù hợp với định hướng phát triển của Thủ đô.
Dưới góc nhìn kinh tế môi trường, việc dừng chôn cất, đóng cửa hoặc di dời các nghĩa trang nhỏ lẻ, phân tán, xen cài trong khu dân cư sẽ giải phóng nguồn lực đất đai, chuyển đổi mục đích sử dụng đất để tối đa hóa hiệu quả.
Với định hướng phát triển mô hình công viên nghĩa trang kết hợp với công nghệ hỏa táng không phát thải, mô hình này sẽ giúp Hà Nội giảm thiểu ô nhiễm nước, không khí; đồng thời đóng vai trò như một “lá phổi xanh” sinh thái, có thể làm tăng giá trị cảnh quan chung của toàn khu vực.
Quy hoạch nhấn mạnh đến việc đẩy mạnh hỏa táng và lưu giữ tro cốt tập trung. Xét về kinh tế môi trường, diện tích để lưu giữ tro cốt chỉ bằng một phần rất nhỏ so với diện tích chôn cất truyền thống. Việc chuyển đổi từ địa táng sang hỏa táng và lưu giữ tro cốt tập trung sẽ tiết kiệm hàng nghìn héc-ta đất nông nghiệp, đất phát triển đô thị cho tương lai của Thủ đô.
Hiện thực hóa chiến lược tăng trưởng xanh
Nhìn một cách tổng thể, các nhiệm vụ được nêu trong Quy hoạch nhằm hiện thực hóa các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Việt Nam cam kết Net Zero vào năm 2050. Việc định hướng ứng dụng công nghệ hỏa táng không phát thải và phát triển tổ hợp công nghiệp môi trường xử lý phát thải thấp hoàn toàn tương thích với chiến lược tăng trưởng xanh này.
Tuy nhiên, các nhiệm vụ đặt ra trong Quy hoạch cũng sẽ đòi hỏi một nguồn vốn khổng lồ. Vì vậy, Hà Nội đã chỉ đạo rõ việc xác định ưu tiên phân kỳ đầu tư theo từng giai đoạn; xác định quy mô nguồn vốn đầu tư và đề xuất các nguồn vốn; rà soát, cập nhật, xác định chương trình, dự án ưu tiên đầu tư.
Quan trọng nhất, quy hoạch yêu cầu đề xuất các mô hình quản lý, tổ chức và thực hiện Quy hoạch; các giải pháp nhằm thu hút xã hội hóa trong việc đầu tư và phát triển các khu chức năng phục vụ thu gom, xử lý chất thải rắn; nghĩa trang, nhà tang lễ.
Có thể khẳng định rằng, Quyết định phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch quản lý chất thải rắn và nghĩa trang Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm là một tín hiệu cực kỳ tích cực, chuyển từ tư duy “chữa cháy” ngắn hạn sang tư duy quản trị tài nguyên dài hạn.
Trong tương lai, Hà Nội sẽ chấm dứt cảnh người dân phải chịu đựng mùi hôi thối hay nguồn nước bẩn từ các bãi chôn rác và nghĩa trang cũ. Hệ thống mới sẽ kiểm soát chặt chẽ khói bụi và nước rỉ rác, ai xả rác hay gây ô nhiễm sẽ phải chịu trách nhiệm xử lý triệt để, không để cộng đồng phải gánh hậu quả thay.
Thành phố sẽ không để các nghĩa trang nhỏ lẻ nằm xen kẹt giữa phố xá chật chội làm lãng phí không gian sống. Việc đóng cửa, di dời nghĩa trang nội đô, cùng với việc khuyến khích hỏa táng và gửi tro cốt ở các khu tập trung sẽ giúp giải phóng những mảnh đất quý giá. Quỹ đất này sau đó có thể dùng để xây công viên, trường học hay mở đường cho người dân.
Rác thải sẽ không còn là thứ đồ bỏ đi, chất đống hôi thối chờ chôn lấp. Thay vào đó, chúng sẽ được phân loại để tạo nên giá trị kinh tế tuần hoàn: những gì dùng lại được sẽ đem tái sử dụng, tái chế thành đồ mới hoặc làm phân bón; phần cặn bã cuối cùng mới đem đi đốt để phát điện.
Quy hoạch 100 năm với định hướng hỏa táng và lưu giữ tro cốt tập trung là một viễn cảnh hoàn hảo trên giấy. Tuy nhiên, hành trình đưa tầm nhìn vĩ mô này chạm đất thực tế lại đang vấp phải những rào cản tâm lý khổng lồ.
Vụ việc dự án tháp lưu tro cốt 13 tầng ngay giữa nội đô Hà Nội trước đó đã vấp phải luồng phản đối gay gắt từ người dân mới đây là một minh chứng rõ nét. Rõ ràng, ai cũng ủng hộ đô thị văn minh, tiết kiệm quỹ đất, nhưng nhiều người lại mang tâm lý e ngại: “Đừng xây nó ở gần nhà tôi”.
Liệu mô hình “nghĩa trang thẳng đứng” có thực sự phá vỡ cảnh quan, hay đây là cú sốc văn hóa tất yếu mà các siêu đô thị phải vượt qua? Giữa lợi ích quy hoạch thế kỷ và những nỗi sợ của cư dân, chính quyền sẽ giải bài toán này ra sao?
Kính mời quý độc giả đón đọc bài tiếp theo: “Tháp tưởng niệm 13 tầng giữa Thủ đô và hội chứng NIMBY (Not In My Backyard): Cú va chạm giữa quy hoạch vĩ mô và rào cản tâm lý”.
Tiến Nguyên