Kinh doanh

Quốc gia biển mạnh không thể thiếu điện gió ngoài khơi: Từ tiềm năng 900 GW đến bài toán 0 MW thương mại

Thứ sáu, 07/08/2026 17:00
QUẢNG CÁO Liên hệ Quảng cáo iSocial Vietnam
TÓM TẮT & GÓC NHÌN ISOCIAL
Tin tức được iSocial Vietnam tổng hợp & biên tập theo Giấy phép số 8095/GP-TTĐT. Cung cấp góc nhìn trọng tâm, tổng hợp tin tức đa chiều cho độc giả.

Việt Nam sở hữu tiềm năng điện gió ngoài khơi hơn 900 GW nhưng hiện vẫn là 0 MW thương mại. Khám phá cách Nghị quyết 20-NQ/TW và Nghị định 272/2026/NĐ-CP định hình chuỗi công nghiệp biển hàng chục tỷ USD.

QUẢNG CÁO IN-READ
Vị trí Quảng cáo giữa bài viết (300x250 / Responsive) / Google AdSense In-Read Banner

Biển cả chỉ thực sự trở thành nguồn lực phát triển kinh tế khi tiềm năng gió ngoài khơi được chuyển hóa thành điện năng, công nghiệp phụ trợ nội địa và đà tăng trưởng bền vững. Với hơn 3.260 km bờ biển cùng vùng đặc quyền kinh tế rộng gần một triệu km², Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia sở hữu tài nguyên điện gió ngoài khơi hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, một thực tế đầy trăn trở là đến nay chúng ta vẫn chưa có bất kỳ megawatt (MW) điện gió ngoài khơi thương mại nào hòa lưới quốc gia. Trong bối cảnh Nghị quyết 20-NQ/TW xác lập mục tiêu chiến lược đưa Việt Nam trở thành ‘Quốc gia biển mạnh’, điện gió ngoài khơi không còn đơn thuần là một giải pháp năng lượng tái tạo, mà đã trở thành thước đo năng lực chuyển hóa tài nguyên thiên nhiên thành sức mạnh kinh tế quốc gia.

Từ Nghị quyết 20-NQ/TW đến tư duy mới về ngành kinh tế biển tích hợp

Ban hành vào cuối tháng 7/2026, Nghị quyết 20-NQ/TW đã mở ra bước ngoặt tư duy trong chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam. Lần đầu tiên, năng lượng tái tạo ngoài khơi được đặt ở vị trí trung tâm trong định hướng phát triển các ngành kinh tế biển trụ cột, thay vì chỉ được nhìn nhận như một phần phụ trợ trong quy hoạch phát triển điện lực thông thường.

Điện gió ngoài khơi không chỉ được đo bằng sản lượng điện. Giá trị của lĩnh vực này nằm ở khả năng hình thành chuỗi công nghiệp biển, từ khảo sát, chế tạo thiết bị, đóng tàu chuyên dụng đến cảng biển, logistics và dịch vụ kỹ thuật.

Ở các thị trường phát triển, điện chỉ là sản phẩm cuối cùng. Phần lớn giá trị được tạo ra từ chuỗi công nghiệp phía sau, nơi năng lực nội địa hóa thiết bị, dịch vụ kỹ thuật và chuỗi cung ứng quyết định tỷ lệ giá trị gia tăng giữ lại trong nền kinh tế.

Với hơn 3.260 km bờ biển và vùng đặc quyền kinh tế gần một triệu km², Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có nguồn tài nguyên điện gió ngoài khơi lớn nhất châu Á. Đây là một trong số ít lợi thế tự nhiên có quy mô đủ lớn để hình thành một ngành công nghiệp biển mới.

Theo nghiên cứu của Cục Khí tượng Thủy văn phối hợp với UNDP, tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi đạt khoảng 1.068 GW. Sau khi loại trừ các khu vực hạn chế khai thác, quy mô có thể phát triển vẫn vượt 900 GW.

Nhưng quy mô tài nguyên chưa tạo ra năng lực cạnh tranh. Hơn 900 GW hiện mới tồn tại trên bản đồ tài nguyên; giá trị kinh tế chỉ xuất hiện khi nguồn gió được chuyển thành dự án, chuỗi cung ứng và điện năng thương mại. Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có một MW điện gió ngoài khơi thương mại hòa lưới.

“Việt Nam có lợi thế tài nguyên để phát triển điện gió ngoài khơi. Nhưng lợi thế chỉ tạo ra giá trị khi được chuyển thành dự án, chuỗi cung ứng và một ngành công nghiệp biển thực sự. Điểm nghẽn hiện nay không nằm ở nguồn gió, mà ở thể chế và tiến độ triển khai”.TS Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển.

Trong bối cảnh đó, Nghị định 272/2026/NĐ-CP trở thành bước đi đầu tiên nhằm hình thành khung pháp lý cho thị trường điện gió ngoài khơi. Tuy nhiên, hành lang pháp lý không đồng nghĩa với việc thị trường sẽ tự vận hành.

Với lĩnh vực có chu kỳ đầu tư 6-8 năm và suất đầu tư hàng chục tỷ USD, điều nhà đầu tư cần là một chính sách ổn định, có thể dự báo trong toàn bộ vòng đời dự án. Chỉ khi đó, những MW điện gió ngoài khơi thương mại đầu tiên mới xuất hiện.

Giá trị phía sau turbine

Ở các thị trường phát triển, điện gió ngoài khơi không được nhìn như một dự án phát điện đơn lẻ. Giá trị lớn nhất nằm ở chuỗi công nghiệp phía sau, từ khảo sát biển, kết cấu thép, cáp ngầm, đóng tàu chuyên dụng đến cảng biển, logistics và dịch vụ kỹ thuật.

Góp ý Dự thảo Luật Điện lực (sửa đổi) tại Hà Nội hôm 30/7, TS Phan Ngọc Trung, nguyên thành viên Hội đồng thành viên Petrovietnam, cho rằng giá trị của điện gió ngoài khơi không được đo bằng sản lượng điện, mà bằng quy mô chuỗi công nghiệp hình thành quanh mỗi dự án.

“Nếu chỉ tính sản lượng điện, chúng ta sẽ đánh giá chưa đầy đủ giá trị của điện gió ngoài khơi. Điều quan trọng hơn là hệ sinh thái công nghiệp biển hình thành quanh mỗi dự án, nơi nhiều ngành cùng tham gia vào một chuỗi giá trị”, ông nói.

Theo ông Trung, kinh nghiệm từ ngành dầu khí cho thấy một dự án ngoài khơi luôn tạo nhu cầu lớn về khảo sát, chế tạo, vận tải biển, xây lắp, vận hành và dịch vụ kỹ thuật. Điện gió ngoài khơi cũng tạo ra hiệu ứng lan tỏa tương tự khi được phát triển theo chuỗi.

Nhiều quốc gia châu Âu không cạnh tranh bằng sản lượng điện gió ngoài khơi, mà bằng tỷ lệ nội địa hóa thiết bị và năng lực doanh nghiệp trong nước. Phần lớn giá trị gia tăng được giữ lại ở chuỗi chế tạo và dịch vụ kỹ thuật.

Việt Nam bước vào thị trường này với lợi thế sẵn có từ ngành dầu khí. Hệ thống cảng nước sâu, doanh nghiệp cơ khí, đội tàu dịch vụ và kinh nghiệm thi công ngoài khơi là nền tảng để tham gia chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi.

“Điện gió ngoài khơi mở ra cơ hội chuyển một phần năng lực của ngành dầu khí sang các lĩnh vực năng lượng mới. Khi tham gia chuỗi cung ứng, giá trị giữ lại sẽ không nằm ở điện năng, mà ở năng lực chế tạo, dịch vụ kỹ thuật và công nghiệp biển”.TS Phan Ngọc Trung, nguyên thành viên Hội đồng thành viên Petrovietnam.

Phép thử của một quốc gia biển mạnh

Chuỗi công nghiệp mới chỉ là một phần giá trị của điện gió ngoài khơi. Ở tầm chiến lược, lĩnh vực này là phép thử năng lực chuyển hóa tài nguyên biển thành tăng trưởng dài hạn và lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Ở góc độ chiến lược, TS Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, cho rằng điện gió ngoài khơi phản ánh năng lực khai thác tài nguyên biển bằng công nghệ hiện đại, thay cho mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào tài nguyên hữu hạn.

“Một quốc gia biển mạnh không thể chỉ đo bằng chiều dài đường bờ biển hay sản lượng khai thác tự nhiên thô. Điều quyết định là khả năng kiến tạo các ngành kinh tế biển có giá trị gia tăng cao. Chuyển dịch năng lượng là cơ hội có một không hai để Việt Nam tái định vị vị thế. Nếu tiếp tục chậm trễ, chúng ta không chỉ mất đi dòng vốn đầu tư quốc tế mà còn tự đánh mất thời cơ hình thành chuỗi cung ứng vùng”. TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam

Theo ông, chuyển dịch năng lượng mở ra cơ hội để Việt Nam tái định vị lợi thế biển. Điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh và các ngành công nghiệp năng lượng mới có thể trở thành động lực tăng trưởng trong nhiều thập niên tới.

Lợi thế tài nguyên không tạo ra lợi thế thị trường nếu bỏ lỡ thời điểm. Trong khi nhiều quốc gia trong khu vực đã vận hành dự án thương mại và hình thành chuỗi cung ứng, Việt Nam vẫn ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Mỗi năm chậm triển khai đều làm tăng chi phí cơ hội.

Theo ông Thập, thị trường hiện không thiếu mục tiêu phát triển. Điều còn thiếu là một lộ trình đủ ổn định để doanh nghiệp tính toán dòng tiền, huy động vốn và đưa ra quyết định đầu tư cho các dự án kéo dài nhiều thập kỷ.

Nghị quyết 20-NQ/TW và Nghị định 272/2026/NĐ-CP đã đặt nền móng cho điện gió ngoài khơi. Nhưng với lĩnh vực cần 6-8 năm chuẩn bị và vốn đầu tư hàng chục tỷ USD, điều thị trường chờ đợi không phải thêm mục tiêu, mà là tiến độ thực thi và tính ổn định của chính sách.

Hơn 900 GW tiềm năng mới chỉ là con số trên bản đồ tài nguyên. Giá trị thực tế chỉ xuất hiện khi nguồn gió ngoài khơi được chuyển hóa thành các dự án hạ thủy, chuỗi công nghiệp phụ trợ hoạt động nhộn nhịp và những MW điện thương mại đầu tiên hòa vào lưới điện quốc gia. Khi đó, điện gió ngoài khơi mới chính thức trở thành trụ cột vững chắc cho vị thế của một Quốc gia biển mạnh.

Trực diện những con số: 900 GW và 0 MW

  • Hơn 900 GW tiềm năng điện gió ngoài khơi có thể phát triển.
  • 0 MW điện gió ngoài khơi thương mại đã hòa lưới.
  • 6-8 năm là chu kỳ chuẩn bị một dự án.
  • Hàng chục tỷ USD là quy mô vốn của một chương trình phát triển điện gió ngoài khơi quy mô lớn.

Hải Vân

📌 Tuyên bố bản quyền & Nguồn tin tổng hợp:
Bài viết được tổng hợp từ nguồn Kinh tế Môi trường. iSocial.vn vận hành dưới hình thức Trang thông tin điện tử tổng hợp theo Giấy phép số 8095/GP-TTĐT do Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử cấp ngày 28/07/2026. Mọi nội dung trích dẫn đều tuân thủ đúng quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.
QUẢNG CÁO Liên hệ Quảng cáo iSocial Vietnam
Kinh tế Môi trường
Theo Kinh tế Môi trường
08/07/2026 17:00 (GMT +7)

Tin liên quan