Thịt heo Việt đắt hơn hàng nhập khẩu
Một khay ba rọi heo Nga loại 400 gram giá 43.000 đồng, tương đương 107.500 đồng một kg. Trong khi đó, ba rọi trong nước đóng khay 300 gram giá 50.000 đồng, tương đương gần 167.000 đồng một kg, cao hơn khoảng 55%.
Khoảng cách giá không chỉ nằm ở thịt rọi. Khảo sát tại một số điểm bán ở TP HCM ghi nhận sườn non nhập khẩu khoảng 153.000 đồng một kg, thấp hơn mức 180.000 đồng của hàng trong nước. Chân giò heo Nga có giá khoảng 49.000 đồng một kg, chưa bằng một nửa hàng nội địa; nạc vai đông lạnh nhập khẩu khoảng 60.000 đồng một kg, cũng chỉ bằng một nửa giá thịt trong nước.
Số liệu hải quan cho thấy, 8 tháng đầu năm, Việt Nam nhập 124.100 tấn thịt heo tươi, ướp lạnh và đông lạnh, tăng 19% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, giá trị nhập khẩu chỉ đạt 213 triệu USD, giảm khoảng 24%. Giá nhập khẩu bình quân còn khoảng 45.000 đồng một kg, thấp hơn khoảng 36% so với cùng kỳ.
Trong khi đó, nguồn cung nội địa vẫn tăng. Cục Thống kê ước tính sản lượng thịt heo 9 tháng đạt 4,28 triệu tấn, tăng 4,4%; tổng đàn heo cuối tháng 9 tăng 5,4% so với cùng kỳ. Nguồn cung đi lên nhưng thịt nội địa vẫn đắt hơn hàng nhập khẩu ở nhiều điểm bán, đặt ra câu hỏi về chi phí sản xuất và phân phối trong nước.
Người dân mua thịt heo ở khu chợ tại phường Phước Long B (TP HCM). Ảnh: Quỳnh Trần
Giá heo thuộc nhóm cao trên thị trường quốc tế
Chênh lệch giá xuất hiện ngay từ khâu chăn nuôi. Theo Pig333, nền tảng thông tin chuyên ngành chăn nuôi heo quốc tế, giá heo hơi Việt Nam giữa tháng 10 đạt 51.700 đồng một kg, cao thứ hai trong 9 thị trường được đối chiếu, chỉ sau Italy với khoảng 56.400 đồng. Các thị trường tiếp theo gồm Mexico, Chile, Ukraine và Trung Quốc, trong khi Bỉ thấp nhất, khoảng 30.400 đồng một kg.
Giá heo hơi cao mới là một phần nguyên nhân khiến thịt bán lẻ đắt đỏ. Theo ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, khi heo rời trang trại, giá tiếp tục tăng do chi phí giết mổ, kiểm dịch, vận chuyển và hao hụt sau khi loại bỏ nội tạng.
Chẳng hạn, với giá heo hơi 50.000 đồng một kg, giá heo mảnh khi ra khỏi lò mổ lên khoảng 65.000 đồng để bù đắp chi phí. Sau đó, thịt tiếp tục qua các khâu vận chuyển, pha lóc, bảo quản và bán lẻ, mỗi khâu có thể khiến giá tăng thêm khoảng 10-15%, theo ông Công.
Ngoài chi phí vận hành, thương lái và đơn vị phân phối còn phải tính đến rủi ro biến động giá, sức mua và hao hụt trong quá trình tiêu thụ.
“Phần chênh lệch giữa giá heo hơi và giá bán lẻ không đồng nghĩa toàn bộ đều là lợi nhuận của thương lái”, ông Công nói.
Thịt heo nhập khẩu và thịt heo nội địa được bán tại siêu thị ở phường An Hội Đông, TP HCM hôm 21/10. Ảnh: Thi Hà
Thức ăn tăng giá, năng suất còn thấp
Ở khâu chăn nuôi, giá thành sản xuất heo trong nước cũng liên tục chịu sức ép. Theo ông Công, chi phí sản xuất một kg heo hơi khoảng 40.000 đồng giai đoạn 2010-2012, sau đó tăng lên 45.000 đồng. Hiện mức này tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ có thể lên 50.000-60.000 đồng một kg, còn doanh nghiệp khoảng 45.000-53.000 đồng.
Thức ăn chiếm khoảng 60-70% giá thành chăn nuôi heo, trong khi Việt Nam phải nhập khẩu 70-80% nguyên liệu sản xuất. Tại Vietstock 2026 ngày 21/10 ở SECC TP HCM, ông Phạm Kim Đăng, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y, cho biết giá thức ăn chăn nuôi hỗn hợp hoàn chỉnh đã tăng 5 lần từ đầu năm, do nguồn cung nguyên liệu và chi phí logistics chịu tác động từ thời tiết, xung đột địa chính trị.
Khảo sát tại các đại lý phân phối cho thấy, giá thức ăn tăng cộng dồn 15-20%, tương đương 1.800-2.500 đồng một kg tùy loại. Mỗi bao cám 25 kg hiện đắt hơn đầu năm khoảng 45.000-62.500 đồng, tạo thêm áp lực lên chi phí chăn nuôi.
Ngoài giá thức ăn, năng suất sinh sản thấp cũng khiến giá thành khó giảm. Theo ông Công, một con heo nái tại các thị trường phát triển có thể cho khoảng 36 con mỗi năm, trong khi mức bình quân ở Việt Nam chỉ 18-22 con. Số heo con ít hơn khiến chi phí nuôi nái, chuồng trại và nhân công phải phân bổ trên lượng sản phẩm nhỏ hơn.
Khác biệt còn nằm ở khả năng khai thác thị trường. Các doanh nghiệp tại Mỹ và Canada có thể tiêu thụ những phần thịt được ưa chuộng trong nước, đồng thời xuất khẩu các phần ít được sử dụng sang thị trường khác, trong đó có Việt Nam. Theo ông Công, cách tổ chức này giúp họ mở rộng đầu ra, phân bổ chi phí hiệu quả hơn và có lợi thế về giá.
Trong nước, theo ông Phạm Kim Đăng, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ hiện đóng góp dưới 50% nguồn cung thịt, giảm so với trước đây. Doanh nghiệp lớn có điều kiện đầu tư công nghệ, tự động hóa và kiểm soát dịch bệnh để giảm chi phí, trong khi hộ nhỏ thường hạn chế hơn về nguồn lực.
Theo lãnh đạo Cục Chăn nuôi và Thú y cùng Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, để cải thiện sức cạnh tranh, ngành cần nâng chất lượng con giống, năng suất sinh sản, kiểm soát dịch bệnh và tăng liên kết theo chuỗi. Phát triển nguồn nguyên liệu thức ăn trong nước, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp cũng có thể giúp giảm phụ thuộc nhập khẩu và hạ giá thành sản xuất.
Thi Hà