PGS.TS Bùi Quang Tuấn: Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đứng trước cơ hội “chuyển mình về chất” cùng đầu tàu Vingroup
Nhìn từ Vingroup, ông cho rằng sự dẫn dắt này đang mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt nâng cao năng lực công nghệ, cải thiện vị thế trong chuỗi giá trị và đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Tạo thị trường dài hạn, mở đường cho doanh nghiệp đầu tư lớn
– Mới đây, gần 1.000 doanh nghiệp quy tụ tại Hội nghị Tăng cường Nội địa hóa và Phát triển Hệ thống Nhà cung cấp 2026 do Vingroup và VinFast tổ chức.Ông thấy gì từ sự kiện có quy mô lớn này?
Đó là tín hiệu đáng mừng về sự hình thành một hệ sinh thái công nghiệp Việt Nam có liên kết, có doanh nghiệp đầu tàu dẫn dắt và có tham vọng vươn ra quốc tế.

Trước đây, chúng ta thường nói tới hạn chế thiếu doanh nghiệp nội địa đủ lớn để dẫn dắt ngành công nghiệp. Các chuỗi sản xuất lớn phần nhiều do doanh nghiệp nước ngoài tổ chức, còn doanh nghiệp Việt chủ yếu tham gia những công đoạn có giá trị gia tăng thấp.
Sự vươn lên của những tập đoàn kinh tế tư nhân như Vingroup cho thấy doanh nghiệp Việt bắt đầu có khả năng tổ chức chuỗi sản xuất quy mô lớn, phát triển công nghệ, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường quốc tế.
Đây cũng là hướng đi rất phù hợp với tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Nhưng theo tôi, điều quan trọng không chỉ là hình thành được những doanh nghiệp lớn, mà còn phải phát huy được vai trò dẫn dắt và sức lan tỏa của họ, tạo điều kiện để hàng trăm, hàng nghìn doanh nghiệp Việt Nam khác cùng phát triển.
–Cơ hội thị trường đã được nói tới nhiều, nhưng doanh nghiệp nhỏ vẫn ngại đầu tư lớn. Những hỗ trợ Vingroup vừa công bố như cam kết cung cấp dự báo sản lượng từ 12 đến 24 tháng, ưu đãi 50% tiền thuê đất trong 3 năm đầu và 30% trong 5 năm tiếp theo,… có thể tạo ra sự thay đổi thế nào, thưa ông?
Theo tôi, động lực quan trọng nhất mà Vingroup tạo ra cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam chính là niềm tin vào một thị trường đủ lớn, có tính ổn định và có triển vọng phát triển dài hạn. Vì trong công nghiệp muốn đầu tư lớn, trước hết phải nhìn thấy thị trường, nhìn thấy tương lai của đơn hàng và khả năng thu hồi vốn.
Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ là đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu khá lớn, thời gian thu hồi vốn dài, yêu cầu cao về công nghệ, độ chính xác và hệ thống quản lý chất lượng. Nếu chỉ có hợp đồng ngắn hạn, doanh nghiệp khó mạnh dạn đầu tư thiết bị, nghiên cứu sản phẩm hay đào tạo nhân lực.
Vì thế, các cam kết và chính sách ưu đãi dài hạn của Vingroup có ý nghĩa rất quan trọng, giúp doanh nghiệp cung ứng chủ động tính toán công suất, dòng tiền, kế hoạch đầu tư và nhu cầu nhân lực. Việc chia sẻ hạ tầng logistics cũng sẽ góp phần giảm chi phí đầu tư và sản xuất cho doanh nghiệp.
Cơ hội nâng vị thế của cả mạng lưới doanh nghiệp Việt
– Khi Vingroup vươn ra toàn cầu, cơ hội của các nhà cung ứng thay đổi ra sao và liệu đội ngũ này có đủ sức để tiến ra thế giới không?
Tôi cho rằng đây là cơ hội mang tính chiến lược để công nghiệp hỗ trợ Việt Nam tạo ra bước chuyển về chất, năng lực cạnh tranh và vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong nhiều năm, Việt Nam hội nhập vào các chuỗi giá trị chủ yếu thông qua tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp FDI. Không ít doanh nghiệp Việt mới tham gia gia công, sản xuất linh kiện đơn giản; quyền quyết định về công nghệ, thiết kế, thương hiệu và thị trường phần lớn nằm ở doanh nghiệp nước ngoài.
Điểm mới và rất đáng chú ý ở Vingroup là doanh nghiệp Việt Nam có thể tổ chức, dẫn dắt một mạng lưới sản xuất mang tính quốc tế, đồng thời mở đường để nhiều doanh nghiệp Việt Nam khác cùng tham gia mạng lưới đó.
Từ đây, tôi nhìn thấy 3 cơ hội. Thứ nhất là mở rộng thị trường thông qua các cơ sở sản xuất của VinFast tại nhiều nước, giúp nhà cung ứng phát triển năng lực xuất khẩu trực tiếp.
Thứ hai là nâng cấp công nghệ. Tham gia chuỗi mới chỉ là bước đầu, điều quyết định là làm công đoạn nào, giữ được bao nhiêu giá trị gia tăng. Hợp tác với doanh nghiệp đầu tàu giúp nhà cung ứng tiến tới sản xuất linh kiện kỹ thuật cao, tham gia thiết kế, phát triển sản phẩm và làm chủ công nghệ.
Thứ ba là sức vươn lên và lan tỏa. Khi đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, doanh nghiệp không chỉ có cơ hội cung ứng cho VinFast mà còn có thể tiếp cận các tập đoàn khác. Năng lực cạnh tranh vì thế được tích lũy trong cả hệ sinh thái.
–Nhìn rộng hơn, câu chuyện này cho thấy vai trò rasaocủa các tập đoàn tư nhân lớn đối với năng lực tự chủ công nghiệp của Việt Nam, thưa ông?
Theo tôi, vai trò ấy thể hiện trên 4 phương diện.
Thứ nhất là tiên phong đầu tư vào những ngành công nghiệp mới, công nghệ mới và lĩnh vực chiến lược. Những ngành như ô tô điện, năng lượng mới, vật liệu mới đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi dài và khả năng chấp nhận rủi ro. Các tập đoàn có tiềm lực có thể góp phần hình thành những năng lực sản xuất mà doanh nghiệp nhỏ khó tự triển khai ở quy mô lớn.
Thứ hai là tạo lập hệ sinh thái công nghiệp trong nước. Doanh nghiệp đầu tàu tạo thị trường cho hàng trăm, hàng nghìn nhà cung ứng, thúc đẩy chuyên môn hóa và hình thành các cụm liên kết ngành. Chính sức lan tỏa này làm nên giá trị quốc gia lâu dài của doanh nghiệp lớn.
Thứ ba là nâng cấp năng lực tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế. Tự chủ không có nghĩa tự sản xuất mọi thứ, mà là chủ động lựa chọn đối tác, làm chủ công nghệ, kiểm soát những khâu chiến lược và thích ứng khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn.
Thứ tư là thúc đẩy đổi mới sáng tạo, năng suất và thương hiệu quốc gia. Các tập đoàn lớn có khả năng kết nối nghiên cứu, nhà cung ứng, tổ chức khoa học công nghệ với thị trường quốc tế, qua đó lan tỏa tri thức và phương thức quản trị tiên tiến.
Vingroup là một trong những tập đoàn tư nhân Việt Nam tiên phong theo hướng này. Thông qua VinFast và việc mở rộng sang công nghiệp, công nghệ, năng lượng, hạ tầng, tập đoàn cho thấy khả năng tổ chức các dự án lớn, phát triển thương hiệu Việt và tạo cơ hội liên kết cho doanh nghiệp trong nước.
Đặc biệt, việc mở rộng mạng lưới nhà cung ứng nội địa thể hiện cách tiếp cận đáng khích lệ là phát triển doanh nghiệp đầu tàu gắn với nâng cao năng lực của cả cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.
–Trong 5–10 năm tới, nếu phát huyhơn nữaliên kết giữa doanh nghiệp đầu tàunhư Vingroupvà các nhà cung ứng trong nước, ông kỳ vọng vị thế công nghiệp Việt Nam sẽ chuyển biến thế nào?
Tôi tin rằng nền công nghiệp Việt sẽ có năng lực nội sinh mạnh hơn, với những doanh nghiệp Việt đủ khả năng tham gia dẫn dắt và cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Một doanh nghiệp vươn ra thế giới đã là thành công. Nhưng nếu kéo theo hàng trăm, hàng nghìn doanh nghiệp Việt cùng cải thiện năng lực và bước ra quốc tế, thành công ấy mới có sức lan tỏa lớn đối với nền kinh tế. Đó chính là vai trò rất lớn của những cánh chim đầu đàn như Vingroup.
–Xin cảm ơn ông!
Minh Khang