Bộ Tài chính đề xuất phạt đến 100 triệu đồng nếu chậm đăng ký trái phiếu
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 156/2020 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 128/2021 và Nghị định 306/2025.
Động thái này nhằm cập nhật các quy định xử phạt theo khuôn khổ mới về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ, đồng thời phân hóa mức phạt theo tính chất, mức độ và thời gian vi phạm.
Phạt 10-100 triệu đồng nếu chậm đăng ký trái phiếu
Một trong những nội dung đáng chú ý tại dự thảo là quy định mới về đăng ký, lưu ký và đăng ký giao dịch trái phiếu.
Theo đó, hành vi chậm đăng ký trái phiếu hoặc chậm đăng ký giao dịch trái phiếu sẽ bị phạt từ 10 triệu đến 100 triệu đồng, tùy thời gian chậm.
Dự thảo cũng đề xuất phạt 1-1,5 tỷ đồng đối với hành vi làm giả giấy tờ hoặc sử dụng giấy tờ, xác nhận giả mạo trong hồ sơ đăng ký trái phiếu, đăng ký giao dịch trái phiếu.
Với các vi phạm về công bố thông tin, báo cáo, thông báo, mức phạt được đề xuất từ 50 đến 200 triệu đồng, tùy tính chất, mức độ và thời gian vi phạm. Trường hợp công bố thông tin, báo cáo có nội dung sai lệch, tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị buộc cải chính thông tin.
Bổ sung chế tài theo quy định mới về trái phiếu
Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, ngày 5/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 200/2026 quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế.
Nghị định này thay thế Nghị định 153/2020, Nghị định 65/2022 và Nghị định 08/2023, đồng thời sửa đổi, bổ sung toàn diện khuôn khổ pháp lý về chào bán và giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ.
Các quy định mới bổ sung, điều chỉnh nhiều nghĩa vụ liên quan đến theo dõi, hạch toán, quản lý và giám sát nguồn vốn; đăng ký, lưu ký, đăng ký giao dịch và đưa trái phiếu vào giao dịch. Trách nhiệm của các tổ chức tư vấn, đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu, tổ chức nhận và quản lý tài sản bảo đảm, thành viên giao dịch cũng được quy định cụ thể hơn.
Trong khi đó, Nghị định 156/2020, cùng các văn bản sửa đổi, bổ sung, chưa cập nhật đầy đủ các hành vi vi phạm theo quy định mới tại Nghị định 200/2026.
Bộ Tài chính cho rằng việc sửa đổi quy định xử phạt là cần thiết để bảo đảm thống nhất giữa các quy định mới về trái phiếu và chế tài xử lý vi phạm.
Tăng phạt với một số hành vi tái phạm
Dự thảo không chỉ bổ sung các hành vi vi phạm mới mà còn phân hóa mức xử phạt đối với một số hành vi theo tính chất, mức độ.
Đối với hoạt động giao dịch ký quỹ, dự thảo giữ các nhóm hành vi vi phạm theo quy định hiện hành nhưng điều chỉnh mức phạt theo mức độ vi phạm. Trường hợp tái phạm có thể bị áp dụng mức phạt cao hơn và đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ giao dịch ký quỹ.
Ngoài ra, dự thảo bổ sung quy định về công bố thông tin, báo cáo, thông báo và trách nhiệm của nhà đầu tư; đồng thời phân định trách nhiệm, chế tài đối với từng nhóm tổ chức cung cấp dịch vụ trên thị trường trái phiếu.
Theo Bộ Tài chính, việc phân hóa mức phạt nhằm tăng tính răn đe, phòng ngừa vi phạm và bảo đảm chế tài tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi.
Tăng phạt với một số hành vi tái phạm.
Cập nhật thẩm quyền xử phạt
Dự thảo cũng sửa đổi quy định về thẩm quyền xử phạt để phù hợp với các thay đổi trong hệ thống thanh tra.
Cụ thể, thẩm quyền của Chánh Thanh tra tỉnh, Trưởng đoàn thanh tra của Thanh tra tỉnh, Thanh tra viên Thanh tra Chính phủ, Thanh tra viên Thanh tra tỉnh và Trưởng đoàn thanh tra của Thanh tra Chính phủ được cập nhật theo Nghị định 189/2025, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 311/2026.
Theo Bộ Tài chính, việc này nhằm bảo đảm thống nhất giữa quy định xử phạt chuyên ngành chứng khoán với quy định chung về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Dự thảo Nghị định gồm ba điều. Trong đó, Điều 1 sửa đổi, bổ sung nhiều quy định tại Nghị định 156/2020; Điều 2 quy định về chuyển tiếp; Điều 3 quy định hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện.
Về chuyển tiếp, các hành vi xảy ra trước thời điểm Nghị định mới có hiệu lực sẽ được xử lý theo quy định pháp luật có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi. Những trường hợp đã có quyết định xử phạt hoặc đã thi hành xong nhưng còn khiếu nại, khởi kiện tiếp tục được giải quyết theo quy định có hiệu lực tại thời điểm xảy ra vi phạm.